THU BỒN: Phần 5- Chương 32


hoianPHẦN NĂM:
Giai đoạn từ 1975 đến 1982

CHƯƠNG BA MƯƠI HAI
Những chuyến vượt biên

Chuyến thứ nhất.

Du đã bán hết số thuốc được làm ra từ mười ký thuốc bột mua ở Qui Nhơn và kiếm thêm một số tiền khá thì phải ngưng sản xuất vì thiếu nguyên liệu. Tuy nhiên việc buôn bán thuốc tây do thân nhân gởi về giúp gia đình trôi chảy tốt đẹp. Minh chỉ ngồi nhà mua và bán nên không mệt nhọc. Số tiền kiếm được dư tiêu mà còn cho các anh em khác nữa. Du bàn với Minh sẽ đi làm lơ xe đò Sàigòn-Bình Tuy để tìm đường vượt biên. Minh bảo:

– Nghề lơ xe cực lắm. Chúng mình đã có nhiều vàng. Sao anh không tìm một tổ chức vượt biên nào có sẵn, mình chỉ đóng tiền cho cả nhà ra đi?

– Em không thấy các anh chị chết lên, chết xuống vì bị người khác gạt khi tìm đường cho các con vượt biên sao? Mình phải tìm cách xuống tận nơi, thấy tận mắt, tiếp xúc với chủ ghe thì mới khỏi bị gạt. Hiện nay nghề làm mối vượt biên kiếm khá nhiều tiền nên tất cả những kẻ lưu manh đều tham gia với rất nhiều mánh khóe xảo quyệt mà những người thông minh nhất cũng không nghĩ ra. Vả lại nếu may mắn anh tìm được chỗ thì số vàng có được chỉ đem được gia đình mình và một số cháu mà thôi. Em không muốn các anh chị được ra đi hết sao?

Nghe Du nói thế, Minh vui vẻ đồng ý. Du thầm phục nàng quên mau chóng những bội bạc của anh em mình khi nàng gặp khó khăn. Tuy các anh chị đều có được một số vàng lớn trong tay khi Sàigòn bị chiếm. Nhưng mỗi người đều có lý do để tiêu hết một cách dễ dàng như ăn uống sung sướng mà không kiềm chế được, bị gạt vì tin cậy vào anh em là các cán bộ cộng sản cao cấp, bị mất vì lo cho các cháu vượt biên mà không thành công. Các cháu được du học từ trước không hề gởi tiền về giúp đỡ với lý do là đang học.

Các anh chị đi được cũng không hề gởi tiền về giúp vì phải lo cho con cái họ học hành tốn kém nhiều. Minh không hề thắc mắc khi thấy người khác gởi tiền về giúp mà anh em nàng thì không. Có thể nàng đã nghĩ tới, nhưng không muốn nói ra khi đã có kinh nghiệm đắng cay với anh em mình khi nàng bị cha con Phát hại và suýt bị đi kinh tế mới. Các anh nàng hiện nay chỉ bám vào đồng lương chết đói công nhân viên mà không biết xoay xở làm sao để kiếm thêm tiền sống?

Người chủ xe là bệnh nhân của chàng trước khi Sàigòn bị chiếm nên vui lòng nhận chàng làm lơ. Nhiệm vụ của chàng là lên xuống hàng hóa cho bạn hàng, trình giấy tờ khi qua trạm, thu tiền những người lên xe dọc đường.

Suốt ngày Du phải bám lấy xe, nhảy lên, nhảy xuống, mở, đóng cửa. Phải chen chúc trong một khoảng nhỏ hẹp đầy người, nóng bức, bực dọc, sẵn sàng gây gổ mà chàng phải luôn tươi cười xin lỗi để thu được tiền vé của khách lên dọc đường. Phải trèo lên mui xe dưới cái nóng oi bức niềm Nam để kéo lên hoặc đưa xuống từng trăm ký hàng hóa. Nếu không có một sức chịu đựng dẻo dai, một tinh thần mạnh mẽ thì dễ dàng bỏ cuộc.

Du phải cắn răng chịu đựng tất cả những bất hạnh của một người lơ xe gánh chịu trước những cơn giận phũ phàng của khách hàng. Phải nhanh nhẹn né tránh những đòn hiểm do công an kiểm soát thương nghiệp và công lộ lén gài suốt lộ trình để bảo đảm an toàn cho những hành khách đi buôn. Vì trong xã hội chủ nghĩa buôn bán cá thể là vi phạm luật pháp.

Tất cả xe chở hành khách phải vào “Công tư hợp doanh” viết tắt CTHD mà dân chúng đùa là “Của tao hắn dựt”. Chính phủ không quản lý được xe cộ vì có nhiều vấn đề nhiêu khê mà không nắm được nhất là về phụ tùng thay thế. Vì thế tư nhân được quyền làm chủ xe mình.

Chính phủ cung cấp dầu và bán vé theo giá chính thức. Chủ xe chỉ được chia 5 vé trên số 54 vé bán ra. Tuy nhiên được quyền hưởng trọn tiền khi lấy khách dọc đường và tiền hành lý kềnh càng của hành khách. Nếu xe hư, chủ phải có trách nhiệm sửa.

Giá vé lúc đầu thật rẻ để chứng tỏ Đảng thương dân, nên đồng bào đi buôn nhiều. Chỉ vài tháng sau là chính phủ bị lổ nặng, nên tăng giá vé lên gấp mười lần.

Chủ xe chỉ sống được nhờ hành khách dọc đường nên xe luôn đầy người. Chính phủ bán ra 54 vé thì dọc đường họ lấy thêm 30 người nữa mà giá vé gấp ba giá chính thức.

Thế mà dân chúng vẫn thích đi theo vé chợ đen. Vì mua vé chính thức phải đến bến xe từ đêm hôm trước, trải chiếu ngay quày vé mà ngủ. Đến sáng mai khi quày vé mở cửa mới mua được vé.

Có những người chuyên môn bán chỗ. Họ ngủ ngay tại bến xe để sáng mai là có chỗ tốt. Hành khách đến buổi sáng thì phải đưa cho họ một số tiền gấp ba lần giá vé chính thức thì được nhường cho chỗ tốt.

Có một quày bán vé riêng dành ưu tiên cho đảng viên đi công tác, thương binh, liệt sĩ, bô đội về phép. Vì thế có nhiều cơ quan chuyên bán giấy giới thiệu cho dân buôn mua vé theo diện ưu tiên. Tham nhũng, cửa quyền phát sinh từ đó.

Ông chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố trong một buổi thảo luận đã nói với giới trí thức là “xã hội chủ nghĩa” như một chiếc xe chỉ chở được 54 người. Nếu nhét vào 100 thì lúc đầu hơi khó chịu, nhưng khi chạy một lúc, lắc lắc xong thì đâu cũng vào đấy. Đó là định nghĩa “xã hội chủ nghĩa” của đảng cộng sản Việt Nam. Đó là thiên đường mà họ hy sinh bao nhiêu xương máu của nhân dân vô tội để xây đắp nên.

Sau này chính Du mướn ý cho Liễu cụm danh từ “kinh tế tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thi hành đổi mới.

Đảng cộng sản buộc người dân phải chấp nhận một khuôn khổ nhỏ hẹp và khó khăn rồi mọi chuyện cũng qua đi. Họ không nghĩ rằng người đi xe sẽ vô cùng khổ sở bị tù túng và chửi chủ xe luôn mồm. Tại sao họ không cố gắng cho người dân hưởng được những tiện nghi trung bình của nhân dân trên thế giới?

Du bị hành khách chửi bới luôn, nhưng phải tươi cười. Một bác sĩ y khoa đã từng được giới trí thức Mỹ kính phục, một giáo sư đại học đã đào tạo cho quốc gia rất nhiều kỹ sư và cán sự, trở thanh một lơ xe đò trong xã hội ưu việt nhất thế giới thì không có gì khôi hài hơn.

Chính phủ lại bày ra những phương cách trừng phạt chủ xe để thu thêm tiền vào túi. Họ cho nhiều toán công an chận ở những khúc đường vắng và bất ngờ. Xe nào chở dư người thì chủ xe phải nộp tiền phạt cho mỗi người dư bằng hai mươi lần giá vé chính thức. Vì thế nếu bị bắt gặp thì phương thức duy nhất để khỏi sạt nghiệp là năn nỉ hối lộ cho công an.

Thành thử chính phủ cũng chẳng thu được đồng tiền phạt nào mà công an thì đầy túi và hạch sách dân chúng đủ điều. Đó cũng là một cách khuyến khích công chức tham nhũng. Tiền kiếm được phải chia đều từ trên xuống dưới. Đảng viên cao cấp ngồi mát ăn bát vàng.

Để tránh bị phạt, các xe đò và xe lam chạy ngược chiều nhau thường ra dấu. Bàn tay đưa lên là an toàn. Bàn tay đưa xuống là có trạm đột xuất. Khi biết có trạm đột xuất thì tài xế phải tinh mắt. Khi thấy khả nghi là dừng xe lại, những hành khách thặng dư xuống đi bộ một quảng qua khỏi trạm đột xuất. Xe sẽ chờ đợi họ một khoảng xa bên kia trạm. Cuối cùng đáng lẽ xe chạy 5 giờ thì phải chạy thành mười giờ. Đến các trạm chính cũng phải làm như vậy.

Vỏ ruột và đồ phụ tùng quá mắc nên chủ xe chém người đi buôn. Người đi buôn chém người mua. Nhiều món hàng từ nơi mua đến nơi bán giá tăng gấp ba. Chung qui người dân chịu thiệt thòi nhất.

Chính phủ cấm buôn bán nên chính quyền địa phương có quyền tịch thu. Tháng nào số thuế thu vào không đủ chỉ tiêu thì công an tịch thu hết hàng hóa dân buôn. Họ chỉ biết khóc vì mất hết vốn. Nhiều sinh viên đói vì tiêu chuẩn bán gạo của chính phủ không đủ nên về quê xin gạo của cha mẹ đem lên Sàigòn ăn. Nhưng gặp lúc bị tịch thu thì ráng nhịn đói tháng đó.

Những người đi buôn lý luận: “Nếu tôi có một ngàn, ngồi ăn không một tháng thì hết. Nếu đi buôn mà không bị tịch thu thì tăng lên hai ngàn. Nếu bị tịch thu thì cũng kéo dài được hai tháng”. Do đó dầu cực khổ bao nhiêu họ cũng phải đi. Phần lớn những bà đi buôn là vợ các sĩ quan bị cải tạo. Trước đây họ sống sung sướng, có kẻ hầu người hạ, suốt ngày chỉ bài bạc, thế mà khi gặp khó khăn cũng xông pha không thua gì đàn ông.

Du nhớ lại trước 75, xe đò chạy các tỉnh phải cạnh tranh nhau kiếm khách. Mình mới vừa bước chân đến bến xe là cả một đoàn người ồ ạt chạy đến, người cầm giúp túi xách, kẻ mang giúp vali kéo khách về xe mình. Hành khách được chủ xe chiều chuộng hết mình. Lơ xe phải lễ phép, ôn tồn, không được nói nặng. Xe chạy Sàigòn-Đà Nẳng chỉ mất hai ngày. Lên bến xe lúc nào cũng có xe đi ngay mà giá vé vừa túi tiền, nạn ăn cắp, cướp giựt tại bến xe không có vì các chủ xe phải bảo đảm an toàn cho hành khách. Những chuyến đi đường xa, phải ngủ đêm được chủ bao khách sạn.

Còn bây giờ thì hành khách bị cán bộ bán vé coi như kẻ ăn xin. Phải sắp hàng từ hai giờ sáng đến bảy giờ mới mua được vé. Nhiều người làm ăn riêng với nhân viên bán vé, đi cửa sau vào lấy cả chục vé mà đồng bào đâu dám phản đối. Những người xung phong đi kinh tế mới bị thất bại về sống vất vưởng trên lề đường chỉ còn một nghề duy nhất là đến bến xe cướp giựt.

Đối với cộng sản, ăn cắp, cướp giựt không phải là trọng tội. Nếu bị bắt, được giáo dục, cấp gạo và cho về. Do đó nghề cướp giựt thịnh hành.

Nhiều bà già từ nhà quê lên Sàigòn thăm con, bị cướp giựt sạch khi vừa bước xuống bến xe. Hành khách đến bến xe ngủ để sáng mai sắp hàng mua vé sớm cũng bị cướp giựt thường xuyên mặc dầu rất cẩn thận.

Không biết giữa cộng sản và tư bản chế độ nào tốt đẹp hơn. Nhưng người dân thực sự đã luyến tiếc quá khứ. Họ không ngờ thiên đàng mà họ ước mơ lại quá tồi tệ hơn địa ngục tư bản mà họ đã sống qua.

Nội chuỵện xe đò không mà đã có biết bao nhiêu phiền toái, phức tạp giữa chính phủ, công an và hành khách mà phần lớn là dân buôn hàng chuyến. Nói chi đến các khía cạnh khác của đời sống.

Cái quan niệm buộc dân chúng phải làm ăn phi pháp mới có miếng cơm để họ luôn sợ chính quyền mà không dám phản đối đã làm xáo trộn hết cuộc sống của nhân dân miền Nam sau một thời kỳ sống thác loạn do đồng đôla của Mỹ mang lại. Tất cả những giá trị luân lý bị đảo lộn một cách khủng khiếp đến tận cội rễ.

Trong số người đi buôn thường xuyên theo xe Du có một bà trung úy, chồng đang học tập cải tạo tại Long Khánh. Bà ta tên Toan, có tám con nhỏ. Trước đây chồng bà ta làm đồn trưởng tại ngã ba Ông Đồn, một trạm kiểm soát trên quốc lộ I. Toan được sống sung sướng một thời gian vì chồng kiếm được nhiều tiền phụ ngoài số lương của quân đội. Từ ngày chồng đi học tập, Toan phải đi bán cá Sàigòn-Bình Tuy để kiếm tiền nuôi con và người chồng đang cải tạo.

Anh ruột Toan có một ghe đánh cá lớn. Tất cả những ghe đánh cá phải vào hợp tác xã. Chính phủ phát dầu và cấp cho một quyển sổ chủ quyền, một quyền sổ chứng nhận số người trên ghe. Mỗi lần ghe rời bến đi đánh cá là phải qua đồn công an biên phòng trình sổ để được kiểm soát.

Cá đánh được phải bán cho chính phủ giá rẻ tương ứng với số dầu được cấp phát. Phần còn lại được bán ra ngoài với giá chợ đen. Chủ ghe lựa cá tươi bán ra ngoài. Phần còn lại bán cho chính phủ. Qua khâu trung gian của hệ thống thương nghiệp, cá được đưa về Sàigòn bán cho công nhân viên thì đã ương rồi. Toan được mua cá tươi và chủ động chở về Sàigòn nên bán được giá.

Trước 75, chủ ghe rất có lời vì làm ăn tự do. Sau này số dầu được cung cấp có hạn và cá sợ cộng sản cũng đi đâu hết nên nghề biển cũng vất vả.

Du thấy hoàn cảnh của Toan tội nghiệp nên giúp hết lòng, ước mong làm quen với người chủ ghe. Mỗi lần xe ở lại Bình Tuy lâu thì Du ghé nhà Toan để thăm các cháu. Thấy chúng hay đau yếu luôn, Du đề nghị châm cứu. Chỉ sau vài lần thì chúng khỏe mạnh hẳn. Du bảo Toan phải giữ bí mật không được cho ai hay là chàng biết chữa bệnh.

Toan giới thiệu Du chữa bệnh cho con anh Thoại, người chủ chiếc ghe đánh cá mà Du hằng muốn gặp. Khi đã quá thân và biết họ thành thật, đơn sơ, Du mới tỏ ý định muốn mua chiếc ghe của Thoại để tổ chức vượt biên. Thoại cũng vui mừng cho biết cả gia đình đều có ý định đó, nhưng phải chờ chồng Toan về rồi mới tính, vì trước đây cũng nhờ sự giúp đỡ của anh ta mới có chiếc ghe.

Họ cũng muốn nhân dịp ấy kiếm một số tiền để sống trong thời gian đầu nếu việc ra đi thành công. Du sẽ là người tin cậy giúp họ tìm người.

Khi Du hỏi về địa điểm bốc người thì Thoại cho biết sẽ dùng một làng công giáo di cư sát bìa rừng và biển để ém người. Du đến thăm cha sở. Sau vài giờ nói chuyện thân mật, cha biết ý định của Du. Cha hứa sẽ trả lời khi bàn với công an và du kích địa phương. Tuần sau, Du được cha cho biết là du kích và công an địa phương sẽ chịu trách nhiệm về an ninh, cung cấp dầu, ém người với điều kiện họ gởi theo 20 người.

Chiếc ghe của Thoại rất chắc chắn, có thể chở hai trăm người mà không sợ chìm khi biển động. Tất cả gia đình Thoại 20 người. Như vậy Du còn có thể đem theo từ 80 đến 160. Du phải trả cho Thoại 200 lượng vàng. Số tiền Minh đang giữ là 220 lượng như vậy là dư sức.

Điều quan trọng là phải đưa chồng Toan ra khỏi trại sớm, nếu không thì tình thế thay đổi khó lường được. Du liền đặt một kế hoạch để Nhi, chồng Toan vượt trại. Nhi đã ở trong vùng Long Khánh từ lâu nên biết rõ địa thế cả vùng. Khi nghe Toan tả con đường vào trại và địa thế chung quanh, Du thấy có thể thực hiện được nếu Nhi có gan và biết liều đúng lúc.

Du đi với Toan và Thoại thăm nuôi Nhi. Nhi ngỡ ngàng khi gặp Du. Khi bốn người chọn được một chỗ tương đối vắng, ăn buổi cơm trưa thân mật với nhau. Du đã trình bày cho Nhi hết kế hoạch vượt trại.

Chỗ Nhi ở là bệnh viện dã chiến của sư đoàn 18. Kế đó là sân bay trực thăng. Giữa sân bay và trại không có rào kẻm gai ngăn cản, không có trạm gác, nên việc vượt trại về đêm dễ dàng. Du sẽ dùng chiếc xe honda đậu gần quốc lộ I, chở Nhi về Bình Tuy giao cho du kích địa phương dấu trong rừng. Lúc đầu Nhi e ngại, nhưng Du phân tích kỹ tình hình và lợi hại thì Nhi yên tâm làm theo đúng kế hoạch và đoan chắc sẽ thành công. Tất cả cải tạo viên không ai có ý trốn trại vì sợ bị bắt lại thì ở tù suốt đời và hy vọng ngày về rất gần. Nhi đoan chắc sẽ thi hành đúng chương trình theo ngày giờ đã qui định.

Du về Sàigòn họp tất cả các anh em của Minh lại phổ biến tin tức. Mọi người nghe xong đều vui vẻ tham gia vì họ tin vào tài tổ chức của chàng. Nội việc chàng dám chịu khổ cực đi làm lơ xe trong ba tháng qua để tự mình tìm lấy phương tiện là một chuyện ly kỳ rồi. Huống chi chàng cho mọi người trong gia đình họ ra đi mà không lấy một đồng xu nào.

Tất cả mọi người trong bốn gia đình anh Minh là 24 người, 6 người của gia đình Du là 30. Du cũng họp anh em trong gia đình mình lại, tổng cộng kể cả các cháu đã lập gia đình là 82 người. Tất cả đều đồng lòng ra đi nhưng với điều kiện là cùng đi một chuyến xe với gia đình Du.

Các anh chị Minh cũng xin cùng đi một chuyến xe với gia đình Du. Cuối cùng Du quyết định là sẽ tìm một số hướng đạo viên tại địa phương vào dẫn từng gia đình một theo một lịch trình định sẵn.

Chỉ riêng các gia đình anh chị Du được đi theo với chàng mà thôi. Như vậy kể cả gia đình chủ xe và vài người cần thiết khác trong đó có Trứ, con Thu, phía bên Du tổng cộng 120 người. Nhưng những đêm sau thì các anh Vân, Nhân, Kha, Thụy đều gặp riêng Du khóc lóc xin xỏ cho những bà vợ nhỏ và đàn con của họ đi theo mà Du bảo là khách của mình. Du biết các anh yêu thương các con dòng hai không kém gì dòng một, nên không từ chối được. Du bảo:

– Nhiều cháu giống các anh như đúc thì làm sao dấu các chị ấy được?

Các anh đều trả lời như nhau: “Trong lúc lo sợ không ai để ý đến chi tiết đó đâu. Khi lên đất tự do, tôi sẽ tự tìm cách giải quyết mà không làm phiền đến dượng”.

Như vậy Du phải đem thêm 16 người nữa. Mọi người đều răm rắp tuân lệnh, nên tuy việc tổ chức rất khó khăn, nhưng trôi chảy dễ dàng. Việc mua giấy phép di chuyển cũng không khó khăn. Trước đó năm ngày, Du đã ra lệnh cho chủ xe kiểm tra lại toàn bộ để xe không gặp trục trặc nào.

Trong hai ngày trước khi lên ghe, Du không nhận hành khách dọc đường nên xe chạy thông suốt. Xe khởi hành ở bến lúc 7 giờ và trở về Sàigòn lúc 4 giờ. Sau đó xe sẽ chạy trở về Bình Tuy, dọc đường sẽ đón từng nhóm đã đợi sẵn vì rời Sàigòn bằng xe lam. Các gia đình anh em Minh kể cả hai dòng và những người khác đều được các hướng đạo từ Bình Tuy vào rước trong vài ngày trước và ém trong rừng từng nhóm nhỏ.

Việc vượt trại của Nhi cũng thành công mỹ mãn trước đó hai ngày vì bọn quản giáo không ngờ có người dám trốn trại. Những người còn lại sẽ theo Du vào chuyến xe chót khởi hành tại Sàigòn lúc 4 giờ. Họ cũng đón xe lam đến các điểm hẹn dọc đường từng nhóm nhỏ.

Du vui mừng khi thấy mọi người đều có mặt và hy vọng chuyến ra đi thành công sau bao nhiêu toan tính và gian truân phải chịu. Minh cũng vui mừng không kém khi thấy mọi việc xảy ra một cách an toàn đúng theo chương trình vạch sẵn.

Xe đang chạy ngon trớn khỏi ngã ba Bình Tuy mười cây số thì xảy ra trục trặc. Xe chạy yếu hẳn đi và tắt máy. Du và chủ xe xuống dở nắp capot, dùng đèn pin xem cẩn thận thì biết được nắp culasse bị nứt một đường. Xe thiếu sức ép nên không nổ được.

Du ngao ngán. Dẫu Du có tài thánh cũng không thể nào sửa nổi trong trường hợp này. Du đã ra lệnh cho chủ ghe, đến giờ là khởi hành, không chờ đợi bất cứ một ai dẫu ngay gia đình Du đi nữa. Thế là Du đã bị Chúa thử thách thêm lần nữa. Bao nhiêu công khó sắp đặt trong ba tháng qua đành tan theo mây khói. Trước sự lo lắng của mọi người, Du tuyên bố:

– Xe không thể chạy được nữa. May đây là cánh đồng trống. Chúng ta hãy tạm ngủ lại trên xe đêm nay và ngày mai từng nhóm nhỏ đón xe hàng hay xe lam về nhà.

Minh ôm lấy Du khóc nức nở. Du an ủi:

– Em hãy can đảm nhận thử thách của Chúa. Anh sẽ cố gắng tìm đường khác.

Các anh chị Du đều buồn nhưng không dám nói lời nào vì sợ làm cho Du đau khổ. Người chủ xe mặt méo xẹo, nước mắt chảy quanh than:

– Sao ông trời lại trớ trêu quá vậy? Tôi đã cho thợ xem lại kỹ càng mọi chi tiết. Thế mà vẫn không tránh khỏi rủi ro.

Suốt đêm mọi người không ai chợp mắt trừ trẻ con. Họ yên lặng nghe tiếng thở dài của nhau và cầu mong thời gian qua mau để sáng ra đón xe về nhà.

Minh ngã đầu vào vai Du nước mắt ràn rụa ướt cả áo chàng. Du nắm chặt lấy tay Minh chia xẻ nỗi đau buồn to lớn của nàng. Tiếng ếch nhái càng tăng thêm nỗi chua xót của mọi người.

Sáng hôm sau, các anh chị Du đón xe lam về ngã ba Dầu Giây và từ đó đón xe về La Ngà. May trước khi đi họ đã bảo cho ủy ban xã biết là về Sàigòn dự lễ giổ của cha nên nhà không bị tịch thâu.

Bốn ngày sau, hai du kích địa phương vào cho Du biết chuyến đi đã thành công mỹ mãn. Mọi người cố gắng chờ Du hơn nửa giờ, rồi mới cho ghe tách bến.

Du cảm động thấy bạn bè cũng còn có lòng chờ đợi mình. Bên du kích hứa sẽ tổ chức một chuyến khác khi nghe tin chuyến này đến nơi bình an và sẽ cho gia đình Du đi không tốn tiền vì chàng là người đã giúp cho họ biết cách thế nào tổ chức một chuyến đi an toàn. Khi du kích ra về Minh bảo:

– Lần sau anh chỉ tổ chức cho gia đình đi thôi. Bao nhiêu công khó và tiền anh bỏ ra mà cuối cùng gia đình mình bị kẹt.

Du mừng khi thấy các gia đình các anh Minh đi trót lọt. Nếu các gia đình anh chị em Du ra đi được mà các gia đình anh chị Minh bị kẹt thì chàng không biết phải nói làm sao trước những lời trách móc nặng nề của Minh. Du an ủi:

– May mà không có ai bị bắt. Nếu họ khai ra anh là kẻ chủ mưu thì phải ở tù không có ngày ra. Mình còn khả năng tìm ra tiền thì còn đi được. Chúa chỉ thử thách mình một lần thôi. Em hãy yên tâm, thế nào anh cũng đưa em và các con ra khỏi đây được.

Nói mạnh thế cho Minh an lòng, chứ Du đã thấy run. Chuyến tổ chức vừa qua chàng gặp quá nhiều may mắn. Bao nhiêu người khôn ngoan, giàu có hơn chàng nhiều mà cũng sạt nghiệp và ở tù vì vượt biên.

Hai tháng sau thì có điện tín từ Mỹ gởi về cho biết chuyến đi đã thành công và các anh của Minh đang ở Thái lan chờ ngày định cư tại Mỹ.

Các anh chị của Du sau lần thất bại ấy, càng thương Du nhiều hơn và ước mong Du kiếm được tiền đưa gia đình chàng ra đi mà thôi. Họ đành ở lại vui khổ với những hoa màu thu được trên những mảnh đất màu mỡ nhờ chặt rừng tạo nên. Do đó Du chỉ còn lo cho riêng gia đình chàng.

Chuyến thứ hai

Một hôm vào một quán nước, Du gặp Cho, một học sinh cũ ở Đà Nẳng cách đây 26 năm. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ khôn cùng. Cho nói nhỏ:

– Em tưởng thầy đã đi rồi chứ! Sao còn ở đây?

– Mỗi người đều có số. Tôi cũng bôn ba lắm, nhưng may chưa đến. Anh hiện làm gì?

– Em đã có vợ và ba con. Trước 75 em có một chiếc xe chở học sinh cho trường Taberd đủ sống. Sau 75, em làm nhiều nghề vẫn thiếu. Hiện nay gia đình em đang sống trên một chiếc ghe nhỏ, đi làm củi mắm từ Rừng Sát chở về Sàigòn bán.

Ghe chỉ gắn một máy BS 9 kiểu đuôi tôm. Em chỉ chạy máy khi cần thiết, phần lớn chèo tay theo con nước hay thuê các tàu lớn kéo. Nhiều tàu kéo một đoàn cả trăm chiếc ghe con như thế. Nghề tuy vất vả, nhưng đủ sống qua ngày.

– Anh có thuộc lòng đường nước từ đây đi Vũng Tàu không?

– Em đã thuộc lòng từ con rạch nhỏ, từng đồn công an, từng chỗ du kích đóng chốt. Em thường hay làm tắcxi chở người vượt biên từ Sàigòn ra tàu lớn.

– Những chuyến tổ chức như thế có thành công nhiều không?

– Mười chuyến thì chỉ đi được một vì ai cũng tham lam từ công an biên phòng, đến người tổ chức, kẻ trung gian, du kích địa phương.

Một ý tưởng lóe sáng trong đầu Du. chàng bảo:

– Anh cho tôi xuống thăm ghe đi. Anh có hộ khẩu không?

– Em đã sống tại phường Rạch Ông từ ngày Giải phóng đến nay nên có hộ khẩu đàng hoàng.

– Anh lái ghe có cừ không?

– Em đã lái hơn hai năm nay rồi, thuần thục lắm.

Cho đưa Du xuống thăm ghe. Tuy nhỏ, nhưng ghe có vẻ chắc chắn. Nếu chịu bỏ tiền ra sửa lại và gắn máy dầu vào thì có thể dùng để vượt biên được. Du về bàn với Minh:

– Anh vừa gặp một học trò cũ có ghe đậu ở gần cầu Rạch Ông. Trong quá khứ anh ta là người tử tế. Sau khi nói chuyện và thử lại thấy anh ta không nói dối. Anh ta vẫn còn kính trọng anh lắm. Mình có thể nhờ anh ta được. Nếu mình chịu khó bỏ tiền ra sửa thành một ghe cào cá và gắn máy dầu vào thì hai gia đình đi an toàn và rộng rãi. Anh ta thuộc lòng đường từ đây ra Vũng Tàu, lái được và biết sơ về máy. Ra đến biển anh sẽ giúp anh ta định hướng. Em nên xuống thăm vợ anh ta nói chuyện để dò xem họ có thành thực hay không?

Minh xuống thăm vợ Cho và cũng có một nhận xét là họ thực thà, tin cậy được.

Du xuống rủ Cho đi làm củi ở Rừng Sát. Tất cả đều như lời Cho nói.

Trong chuyến đi, Du đã được Cho bày cho lái ghe bằng máy đuôi tôm và chỉ cho những ngõ ngách trên từng chặng đường. Khi về bến, bán củi xong, Du đề nghị:

– Sao anh không tìm cách vượt biên. Ở đây làm gì cho vợ con khổ?

– Em đã thử một lần, thất bại, nên hết tiền.

– Nếu có người chịu bỏ tiền ra cho anh sửa ghe rồi cùng đi, anh chịu không?

– Nếu người đó là thầy thì em thích lắm. Xưa nay em vẫn hằng kính trọng thầy và muốn làm một cái gì để trả ơn thầy. Thầy lại giỏi xoay xở về mọi mặt. Nếu thầy chịu cộng tác thì hay ho biết mấy!

Du phịa chuyện thương tâm:

– Tôi đã bị người ta gạt nhiều lần rồi. Suýt ở tù mấy lần nên sinh ra ngờ vực. Bây giờ làm ăn khó khăn. Luân thuờng đạo lý không còn nữa. Trong việc này, người bị gạt chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt chứ đâu dám kiện tụng gì. Tôi có ít tiền, nhưng có thể mượn thêm được. Xin anh đừng gạt tôi mà tội nghiệp.

Anh ta đưa tay lên trời thề:

– Em mà gạt thầy thì bị xe cán ngay. Xin thầy hãy tin em đi. Làm sao em có thể tìm được người cộng tác tin cậy và giỏi hơn thầy. Ra ngoại quốc, em còn nhờ thầy nhiều. Không bao giờ em dám gạt thầy đâu.

– Được, tôi tin anh. Anh có thể xin phường cấp cho giấy phép làm ghe cào cá không? Hiện nay chưa ai dám dùng ghe nhỏ để vượt biên nên không bị nghi ngờ. Vả lại ghe cào cần phải có sườn cứng nên mình dễ sửa chữa theo ý muốn.

– Việc này em lo được. Chừng tuần sau sẽ có giấp phép.

Du ra chợ Đặng thị Nhu, một con đường nhỏ sau rạp Đại Nam mua sách. Đây là chợ sách Sàigòn. Tất cả những sách kỹ thuật và nghề nghiệp đủ trình độ được bày bán ở đây.

Về máy dầu cặn thủy động cơ, Du nhận thấy chỉ có loại Yanmar 11-16 là có nhiều ưu điểm nhất đối với những ghe nhỏ. Vòng quay nhanh, bảo trì dễ, ít tốn dầu, rất bền. Loại Yanmar 8-12 thì hay hư hộp số. Loại Yanmar 10-15 thì hay bị nứt nắp culasse. Loại Gray Marine của Mỹ chỉ dùng cho những tàu lớn.

Du mua một sách chỉ cách đóng ghe biển và một quyển khác chỉ cách may bườm và lái ghe bằng bườm.

Trong một tháng, ban ngày Du ở ụ ghe để chỉ cho thợ đóng theo ý mình, thêm các đà ngang, đà dọc cho ghe mạnh có thể chịu đựng giông bão bất chợt ngoài biển cả. Ban đêm đọc sách về mọi kỹ thuật hải hành. Du mua một máy Yanmar 11-16 cũ nhưng còn tốt và tự tay tân trang lấy và nhờ thợ ráp vào ghe.

Ghe được gắn thêm một dàn cào ở sau lái. Sau khi sửa, ghe dài 10m, rộng 2m, sâu 1,2m. Tuy mới vào nghề cào cá, nhưng Du học hỏi kinh nghiệm rất nhanh và chỉ sau vài lần tập dược là đã thành thạo rồi.

Vấn đề đưa hai gia đình ra đi thật dễ dàng vì Du đã biết hết các ngỏ ngách trong rừng Sát thông ra biển. Tất cả phí tổn làm ghe là 20 lượng vàng.

Từ ngày có ghe cào thì gia đình Cho được sống no đủ. Du đã đưa Tuấn, đứa con đầu xuống tập lái. Tuấn rất khéo tay và nhanh nhẹn. Chỉ học sơ qua vài ngày là có thể đậu ghe vào bến một cách dễ dàng. Việc chạy ghe trong các sông rạch Sàigòn rất khó khăn vì rạch thì hẹp mà nhiều ghe qua lại. Ghe lại có quán tính lớn nên phải biết giảm tốc độ kịp thời.

Có những đêm Minh đưa cả gia đình xuống ghe. Khi cào được một mẻ tôm khá, Minh làm món ăn và cả hai gia đình qui tụ trên lồng cu thưởng thức một cách thú vị.

Minh rất vui khi thấy Du chỉ còn chú ý đến việc đưa gia đình ra đi mà thôi. Tất cả anh chị nàng đã được Du đưa đi cả rồi. Nếu nàng cũng thoát được thì toàn vẹn biết bao nhiêu!

Khi sửa soạn xong thì vào mùa biển động. Du yên tâm mình có phương tiện trong tay, giờ giấc ra đi do mình quyết định. Hai gia đình chỉ có mười một người nên việc xuống bãi không ai nghi ngờ. Du khuyên Cho chờ đến tháng ba sang năm khi trời yên, biển lặng hãy ra đi. Bây giờ cả gia đình Cho đều được no đủ nhờ cào cá thì vội vàng làm gì. Cho trả lời:

– Em biết ơn thầy nhiều. Từ ngày gặp thầy, gia đình em hết khổ cực, nheo nhóc. Đến bao giờ em mới trả được ơn thầy?

– Tôi làm như vậy là có lợi cho tôi chứ ân huệ gì. Nhờ anh mà tôi có dịp tạo được một phương tiện riêng đưa cả gia đình ra đi khi thuận tiện. Anh ráng chờ đợi đến tháng ba sang năm, chúng mình ra đi là an toàn nhất.

– Ai thấy chiếc ghe cũng khen làm em hãnh diện lắm. Nếu không có thầy làm sao em sửa chữa được như vậy?

Tuần sau, Long nhờ Du xuống tỉnh Minh hải quan sát và cho ý kiến để ty công nghiệp xây dựng một nhà máy nước đá cung cấp cho ty hải sản. Du cho Cho biết sẽ vắng mặt trong một tuần. Du dặn Cho ở nhà lo cào cá đừng la cà trong các tiệm ăn.

Khi về, Du đến cầu Rạch Ông thì không thấy ghe Cho đâu. Du hỏi các người chung quanh biết ghe Cho đã đi cách đây hai ngày. Du lấy làm lạ vì trước đây mỗi chuyến cào cá lâu nhất là một ngày.

Du về nhà, tuy hơi lo lắng, nhưng không nghi ngờ Cho. Mấy ngày sau, hôm nào Du cũng qua cầu Rạch Ông mà không thấy ghe đâu cả. Du thuê một chiếc ghe nhỏ đi suốt các kinh rạch của vùng Sàigòn-Chợ lớn để tìm mà cũng không thấy đâu.

Du buồn quá, nhưng không dám cho Minh biết. Chờ mười lăm ngày nữa cũng không có tin tức Cho mặc dầu Du đã hỏi mọi nơi quen biết. Lúc ấy Du mới chắc là Cho đã gạt mình rồi.

Bao nhiêu tiền của, công lao đổ vào đó. Bao nhiêu hy vọng, ước mơ đã tan thành mây khói. Du tưởng mình có thể điên lên được. Du đã đến hang đá Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng cầu xin Cho mau về. Thấy Du mất bình tĩnh và không đề cập về chiếc ghe nữa, Minh nghi ngờ và hỏi. Du đành thú nhận:

– Cho đã gạt chúng mình rồi. Hai mươi ngày nay anh tìm Cho mọi nơi mà không gặp. Cũng có thể Cho đã bị một tai nạn nào. Mình chờ thêm ít bữa nữa. Số mình vất vả thiệt!

Minh khẳng định:

– Em không còn tin tưởng gì nữa. Cho đã gạt mình rồi. Thấy các con mà em xót xa quá. Tuấn học rất giỏi nhưng bị các thầy cô từ Bắc vào làm khó dễ. Tuấn có vẻ mất tinh thần. Nếu tình trạng này kéo dài, em sợ con không chịu nổi đả kích mà làm bậy. Khi con đã chán việc học thì khó lòng tiếp tục.

Du cũng tưởng mọi việc rồi sẽ qua đi và chàng sẽ kiếm tiền làm một chiếc ghe khác một mình. Nhưng Long ghé thăm cho biết tình cờ đọc được một bản báo cáo mật của công an gởi ông Sáu cho biết vừa mới khám phá được một tổ chức chống phá Cách Mạng do các học sinh trung học mà cha là những quân nhân đang bị cải tạo. Tổ chức này do một nhóm chính trị gia cầm đầu và xúi dục. Công an đang tiếp tục điều tra để biết hết các thành viên và sẽ bắt luôn một lượt.

Tuấn có tên trong danh sách. Du bàng hoàng nghe tin trên. Du không ngờ Tuấn lại dại dột thế. Long khuyên Du hãy cho Tuấn nghỉ học và đưa ra khỏi Sàigòn về miền quê lánh nạn.

Khi Long ra về, Du kêu Tuấn vào hỏi. Lúc đầu Tuấn chối, nhưng khi Du cho biết tên của những bạn bè Tuấn tham gia thì nó mới thổ lộ:

– Con thấy không thể sống dưới chế độ này được. Họ coi con như là một con chiên ghẻ. Họ xoi mói mọi việc con làm. Họ phê bình và cho điểm thiên vị.

Du ôn tồn khuyên nhủ con:

– May mà bác Long cho biết tin trước nếu không khi con đã bị bắt thì cha phải liên đới chịu trách nhiệm và hai cha con mình sẽ sống suốt đời trong lao tù. Khi vào tù, thấy thực tế, con hối hận thì đã muộn. Đây là một chế độ công an trị và tàn ác nhất nhân loại. Con chống lại họ chỉ thiệt thân mình. Bây giờ, con nghỉ học và lên làm rẫy với bác Ba. Khi nào cha kiếm được phương tiện ra đi sẽ lên tìm con.

Chỉ một tuần sau Tuấn nghỉ học là tổ chức bị bắt toàn bộ. Du bị công an gọi lên chất vấn. Du bảo:

– Cháu đã theo bạn bè vượt biên và nay tôi không biết cháu đang ở đâu. Nếu các ông bắt được cháu thì cứ theo pháp luật trừng trị. Tôi không dạy dỗ được cháu rồi.

Công an biết Du không phải là hạng người dễ bị hăm dọa và phần lớn đều nhờ vả chàng trong việc trị bệnh nên cho qua.

Hai tháng sau Du lên thăm con. Đây là một chỗ trú an toàn vì nằm ngay trong rừng sâu. Nhìn con cắm cúi chặt cây, dọn rẫy, đốt rừng, mồ hôi trộn với nước mắt, hai tay chai cứng, tim Du se sắt. Tuổi mười lăm là tuổi của mộng mơ mà con chàng chỉ thấy rừng thiêng, nước độc, chim kêu, vượn hú.

Chàng đặt bao nhiêu ước mơ và hy vọng vào đứa con đầu lòng mà chàng đã bỏ nhiều công phu vun xới và biết rõ khả năng, trình độ thông minh, tính can đảm, lòng hăng say trong công việc. Thế mà nay đành phải chôn chặt tài năng trong rừng sâu chỉ vì bị bọn chính trị đàn anh ngu dốt, tham lam, thiển cận lợi dụng. Bị đàn áp bởi một tập đoàn giáo viên cộng sản chỉ biết lấy hận thù, ghen ghét, đố kị làm lẽ sống.

Cuộc đời chàng đã từng bị gian khổ từ nhỏ, nên không muốn con phải dẫm lại con đường cũ. Thế mà vẫn không tránh khỏi. Đến bao giờ chàng mới đủ sức giúp con ra khỏi tình trạng bi đát này? Sao ông trời lại oái oăm đến thế! Chàng đã giúp cho bao nhiêu người thành công mà riêng những người thân yêu nhất lại chịu thiệt thòi? Chàng từ giả con mà lòng nhỏ lệ.

Chàng trở về Sàigòn với tâm trạng buồn rầu khôn xiết. Vừa bước xuống xe, chàng thấy một đứa bé gầy gò, ghẻ chốc đầy người, đưa tay xin tiền. Du thấy quen, nhìn kỹ lại thì đó là con đầu của Cho. Du cho nó ít tiền và hỏi:

– Cháu có phải là con ông Cho không?

Nó trố mắt nhìn và nhận ra Du, nó vui mừng bảo:

– Thưa bác, bác có phải là bác Du không?

Du vui mừng hỏi:

– Cha mẹ con bây giờ ở đâu? Hãy đưa bác lại gặp cha mẹ con đi.

Nó ngoan ngoản đưa Du về cuối đường Trần Hoàng Quân thì gặp vợ Cho. Bà ta có vẻ ngượng ngập và lo sợ khi thấy Du. Du bảo:

– Không ngờ chị và các cháu đến tình trạng thê thảm này. Anh ở đâu? Tôi tìm anh chị mãi mà không được. Không biết anh chị gặp nạn gì mà đến nỗi này?

Chị ta ứa nước mắt bảo:

– Thầy tha lỗi cho chúng em. Nói ra thật xấu hổ. Chúng em không có ý định lừa thầy và luôn vâng theo lời thầy dặn. Thầy đi được một hôm thì có một ông khách đến thăm ghe và nói chuyện với nhà em. Ông ta khen ghe tốt và muốn đi thử một vòng. Anh Cho vui vẻ chở đi. Khi về bến ông ta rủ ảnh lên nhà chơi và nói chuyện nhiều hơn.

Chiều về ảnh bảo đó là một ông bác sĩ rất giàu muốn mua ghe vượt biên. Ông ta thấy ảnh lái ghe thành thạo và biết rõ đường đi nước bước từ Sàigòn ra Vũng Tàu nên bảo sẽ trả cho ảnh một trăm lượng vàng khi ghe ra đến biển.

Gia đình ổng chỉ có hai chục người. Ảnh bảo là đã chung với một người khác và phải chờ đến tháng ba sang năm mới ra đi cho an toàn. Ổng bảo thời buổi này chính phủ thay đổi ý kiến luôn làm sao chắc chắn được ngày mai! Tuần sau người ta buộc mọi ghe cào cá vào hợp tác xã thì bị kiểm soát thường xuyên làm sao đi được? Ghe chắc chắn như vậy lại chở ít người thì làm sao chìm được khi biển động. Mình cứ ra đi. Khi thành công gởi tiền về trả cho người kia chứ có gạt ai đâu mà sợ.

Thấy số vàng to quá và những lý luận của ổng rất hữu lý nên ảnh tối mắt, nhận lời. Hôm sau ổng xuống, được ảnh chở đi một vòng cho biết ngã nào ra biển an toàn. Em can ngăn thế nào cũng không được. Thế là tối hôm sau ảnh đưa ghe đến một địa điểm khác để đón gia đình ông ta đi một cách an toàn.

Khi ra đến biển, ông ta vui mừng trả cho ảnh đúng số vàng đã nói. Đi được một lúc thì biển động. Tất cả mọi người trên ghe đều say sóng trừ ảnh. Nhưng ảnh chỉ biết lái chứ không biết định hướng theo hải bàn nên ghe chạy gần Côn Đảo. Công an biên phòng đem tàu tuần rượt theo bắt lại. Họ lấy hết vàng và giam mọi người vào ngục. Ông bác sĩ mất đến gần hai trăm lượng.

Tất cả số vàng của ổng đưa cho bọn em cũng bị tịch thâu luôn. Hôm sau họ đưa đàn bà trẻ con vào bờ và tha ngay. Nhà em cùng năm người đàn ông khác trong gia đình ông bác sĩ bị giữ lại. Họ bảo phải đem tiền xuống số nhà 115 đường Nguyễn Thị Minh Khai, Cần Thơ mỗi người năm lượng thì mới chuộc ra được.

Du ngao nán. Sao đời Du chỉ toàn gặp bọn bác sĩ ngu dốt và lưu manh như thế! Chỉ nghĩ đến mình và gia đình mình mà làm những việc thương luân bại lý có hại cho những người chung quanh.

Du thấy vợ Cho gầy ốm, bệnh hoạn. Hai đứa con nhỏ thì đang nằm trên vỉa hè. Du khám thì thấy chúng đang sốt và sưng phổi nặng. Thấy tình cảnh bi đát của vợ con Cho, bao nhiêu giận hờn tan biến. Du thấy mình còn được Chúa thương nhiều, chưa gặp cảnh khó khăn như họ. Thời buổi này lương tri không còn nữa. Lòng tham của tất cả các đảng viên cộng sản đã truyền nhanh vào dân chúng. Đồng tiền làm ra khó, nên khi thấy một số vàng lớn là họ tối mắt ngay.

Phần lớn các vụ vượt biên đều bị thất bại vào giờ chót, vì lòng tham của chủ ghe, công an, người tổ chức được dấu kín từ lâu, nay mới lộ diện. Công an muốn lấy thêm vàng khi số người ra đi quá số qui định. Chủ ghe và người tổ chức thì muốn ráng kiếm thêm nhiều người để vàng vào đầy túi. Rồi bất đồng ý kiến và công an lật lọng bắt giam để lấy hết vàng. Chỉ tội cho người ra đi, vừa mất vàng, vừa bị tù mà muốn ra sớm thì phải bỏ tiền ra chuộc.

Thấy Du trầm ngâm không nói, vợ Cho tiếp:

– Chắc thầy giận chúng em lắm. Khi bị bắt, em đã chửi nhà em một trận. Ổng chỉ biết cúi đầu hối hận. Thôi, xin thầy tha lỗi cho chúng em. Hai tháng nay trời đã phạt mẹ con em quá nhiều rồi. Nếu tình trạng này kéo dài chắc mẹ con em chết đói và bệnh. Năm người của gia đình bác sĩ đã được chuộc ra rồi. Em xin họ giúp cho chồng em ra mà họ bảo để ảnh đền tội lưu manh của mình.

Du phì cười khi nghe vợ Cho nói thế! Ông bác sĩ lưu manh đã dùng tiền quyến rủ người khác làm bậy mà lại lớn tiếng kết án Cho. Miệng lưỡi kẻ có tiền thật lợi hại! Du bảo:

– Khi về không thấy ghe, tôi đã thuê ghe nhỏ tìm anh chị trong hơn mười lăm ngày. Sau đó tôi mới tin là anh chị gạt tôi. Tôi đã đối xử với anh chị như bát nước đầy mà nở lòng nào anh chị đối xử với tôi như thế! Bây giờ thì sự nuối tiếc và buồn giận cũng nguôi ngoi. Chị làm sao sống qua ngày?

– Bây giờ trong tay không có một xu. Quần áo chỉ còn một bộ bận trên người. Trời thì lạnh mà không nhà cửa, ngủ trên vỉa hè, may mà mùa mưa đã qua. Nếu không mẹ con em đã chết rồi. Hai cháu sốt mà mấy ngày nay không có thuốc uống. Em và cháu lớn đi xin ăn sống qua ngày chờ ảnh ra mới quyết định. Thầy có thể giúp chuộc ảnh ra không?

Du đưa cho chị ta ba trăm đồng tương đương một chỉ vàng nói:

– Tôi bây giờ đâu có khác gì chị, làm sao có tiền chuộc ảnh ra được. Năm người kia đã ra rồi thì chắc tuần sau là ảnh sẽ được thả. Chị dùng tiền này sống tạm chờ ảnh ra. Tôi sẽ bảo nhà tôi đến thăm chị và cho các cháu một số thuốc uống, một ít quần áo và mùng mền để sống.

Khi Du kể lại mọi việc thì Minh nổi sùng bảo:

– Những kẻ lừa đảo như thế mà mình còn giúp làm gì? Cứ để cho họ chết đi cho thế gian này bớt xấu xa.

– Em chưa gặp hoàn cảnh như họ. Biết đâu ngày nào mình cũng lâm vào hoàn cảnh ấy. Gia đình mình hiện nay cũng đang sống trong sự bất trắc thường xuyên. Em nên đi thăm để biết thực tế bi thảm mà họ đang gánh chịu.

– Anh đưa em đi gặp chị ta. Em phải nói cho chị ta biết mới được. Em nghe nói mà tức muốn lộn ruột lên.

Khi Minh nhìn thấy tình cảnh thảm nảo của vợ con Cho và nhớ lại thời gian bị cha con Phát đày đọa, bao nhiêu tức giận tiêu tan hết. Minh ân cần bảo:

– Chị đến nhà tôi sẽ cho một ít quần áo, mền chiếu. Trời lạnh như thế này mà ngủ trần trên lề đường thì chỉ có chết mà thôi!

Du đưa cho vợ Cho một số thuốc và dặn cách uống. Bà ta chỉ biết cúi đầu cám ơn mà nước mắt chan hòa.

Chuyến thứ ba.

Một tuần sau có hai du kích địa phương ở Bình Tuy vào Sàigòn gặp Du. Họ cho biết sẽ tổ chức một chuyến đi nữa vào chỗ cũ. Họ đã thương lượng với chủ ghe và người tổ chức cho Du hai chỗ đi không tốn tiền để bù lại những thiệt thòi lúc trước. Nếu đồng ý thì ra xem ghe và biết kế hoạch tổ chức.

Du thấy chiếc ghe có thể chở được ba trăm người. Ghe chắc chắn và máy móc còn mới. Việc bốc người được chia thành hai địa điểm. Số người từ Sàigòn ra là hai trăm do công an và du kích xã chịu trách nhiệm. Số tiền chi cho chủ ghe là ba trăm và cho công an cùng du kích xã là một trăm lượng. Người tổ chức và trung gian được hai trăm lượng.

Chủ ghe nhận trước bốn mươi lượng và phần còn lại lên ghe mới giao. Khi ghe rời khỏi bến, công an và du kích mới nhận đủ số vàng. Chủ ghe được quyền nhận thêm hai chục người từ Sàigòn ra và tự lo liệu. Du được chủ ghe bốc chứ không đi theo nhóm hai trăm người kia.

Du gặp chủ ghe trong một xóm hẻo lánh lúc 10 giờ đêm cùng với một bác sĩ thú y và một thương gia Tàu Chợ lớn. Đang nói chuyện thì từ ngoài một người đàn bà chạy xổ vào la to:

– Trời ơi! Chồng tôi tổ chức vượt biên mà không cho tôi hay. Tôi phải đi báo công an mới được!

Du và hai người mới đến nghe mà muốn đứng tim. Trời tối, xứ lạ, biết chạy đường nào? Hàng xóm biết được đi tố công an thì ở tù cả lũ. Trời đang vào đông, gió bấc thổi mạnh, mà Du cảm thấy mồ hôi vả ra như nước trên trán của hai người bạn mới quen. Ông bác sĩ thú y mặt xanh như tàu lá đưa mắt dớn dác nhìn quanh xem có đường nào chạy trốn không.

Ông ba Tàu sợ run, hai hàm răng đánh vào nhau nghe lộp cộp. Ông chủ ghe nổi giận, tát cho bà vợ một cái nên thân. Bà ấy lại la lớn, kêu gào thảm thiết. Người em rể vội chạy đến bịt miệng bà ta. Ông chồng cũng nhào đến ôm chặt bả và giúp em bụm miệng. Du vội bảo:

– Hai người hãy đưa bà ta về nhà. Chúng tôi sẽ nghỉ lại nơi đây một đêm và mai tính tiếp.

Hai người nghe theo, vừa bịt miệng, vừa kéo bà ta ra cửa. May mà dân chúng đã đi ngủ sớm và căn nhà nằm cuối xóm một khoảng xa nên không ai nghe câu nói đầu tiên của bả. Người vợ chủ nhà bây giờ mới lên tiếng:

– Hai vợ chồng anh ấy gây lộn nhau thường xuyên nên cả xóm đều biết. Họ không để ý đến đâu. Các ông cứ yên tâm ngủ. Sáng mai mọi việc sẽ tốt đẹp.

Nói xong bà ta đi vào buồng trong. Còn lại ba người, Du cười bảo:

– Nếu có gì, chúng ta nhảy đại xuống nước trốn vào các bụi cây trên bãi thì không ai kiếm ra đâu.

Ông Tàu than:

– Trời đất ơi! Ngộ đâu có làm gì ác mà gặp cảnh khổ này. Ngộ đâu có biết bơi. Nhảy xuống nước là chết. Ngộ sợ lắm.

Ba người nằm thao thức chưa ngủ được thì lại nghe tiếng chân người và tiếng gõ cửa. Hai người kia ngồi dậy toan chạy trốn thì ghe tiếng chủ nhà bảo vợ mở cửa.

Sáng hôm sau vợ chồng chủ ghe trở lại. Hàng xóm hỏi:

– Tối qua ông bà làm gì mà náo động cả xóm vậy?

Bà vợ vui vẻ trả lời:

– Ổng uống rượu say nằm ở nhà chú Tư. Tôi đi kiếm về mà ổng đánh nên tôi phải la lên.

Khi gặp, ông chủ ghe cho biết vì bà vợ không kín miệng nên ông ta dấu không cho biết ý định vượt biên. Chỉ cho biết khi sắp ra đi. Vì phải vào Sàigòn nhiều lần nên bả nghi ngờ tìm cho ra sự thật. Nay đã biết sự thật bả vui mừng hứa giữ kín mọi chuyện. Sau một hồi bàn cãi các chi tiết phải làm, điều kiện đóng tiền, lộ trình đi và ngày giờ sẽ được hướng đạo viên từ đây vào báo. Chờ đến chiều, em chủ ghe dẫn ba người xuống bãi quan sát và nhớ thuộc lòng địa thế.

Du cho Minh biết việc tổ chức khá an toàn và muốn cho Tuấn dẫn Trí đi. Du bảo:

– Tương lai là của các con. Tuấn đủ khôn ngoan và lanh lẹ để lo cho Trí. Chúng đi được thì các anh chị chắc sẽ giúp cho chúng ăn học. Anh sẽ kiếm thêm tiền và cơ hội đưa ba mẹ con đi sau.

Minh cãi:

– Tuấn chưa đủ khôn để giúp Trí đâu. Nếu có anh bên cạnh, Tuấn sẽ học mau chóng. Anh sẽ kiếm được nhiều tiền gởi về và em sẽ tìm cách đưa ba con đi sau. Nếu khó quá thì chờ đợi đến khi nào anh xin được đoàn tụ thì thôi. Chỉ cần có tiền thì em và ba con sẽ sống an nhiên trong xã hội này.

Em chỉ sợ Tuấn bị bắt thì anh phải chịu liên lụy. Lúc ấy thì không còn khả năng lo cho ai cả. Xa anh em cũng đứt từng đoạn ruột. Nhưng tình thế bắt buộc đâu có cách lựa chọn nào khác. Anh và Tuấn còn ở lại ngày nào thì em mất ăn, mất ngủ ngày đó. Nếu anh và Tuấn đến nơi bình yên thì em trút được gánh nặng ngàn cân. Từ xưa nay, em chưa xin anh điều gì. Nay em cầu xin anh hãy nhận lời.

Minh đã khóc nhiều, năn nỉ, van xin nên Du đành phải nhận lời cho nàng vui lòng.

Chủ nhật đó, cả nhà đi viếng và xem lễ nhà thờ Fatima Bình Triệu. Sau lễ, cả nhà quây quần bên gốc dừa sát bờ sông ăn bữa cơm đoàn tụ cuối cùng. Ngày mai sẽ lên đường.

Minh vui vẻ nhắc lại các kỷ niệm quá khứ đã cùng Du và các con vui hưởng. Tuy cảnh vật vui tươi, nhưng mọi người trong gia đình đều cảm thấy một nỗi buồn sâu xa của một cuộc phân ly mà khó có ngày sum họp. Khi các con đùa dỡn quanh đó, Minh ngồi bên Du trên chiếc ghế sát bờ sông, khẻ ngâm bài thơ:

Non nước đang chờ gót lãng du.
Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu.
Lòng em phơi phới trên thương tiếc,
Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ.

Anh vui đi cảnh lạ, đường xa.
Đem chí binh sinh giải nắng mưa.
Thân đã hiến cho đời gió bụi.
Sao còn lưu luyến chút duyên tơ?

Rồi có khi nào ngắm bóng mây,
Chiều thu đưa lạnh gió heo may,
Dừng chân trên bến sông xa vắng.
Chạnh nhớ tình em trong phút giây.

Xin anh cứ tưởng vợ anh tuy,
Giam hảm thân trong cảnh nặng nề,
Cũng để hồn theo người lận đận.
Cũng hằng trông đếm bước anh đi.

Minh dừng lại, nhìn Du âu yếm bảo:

– Em không bao giờ quên những kỷ niệm của ngày hôm nay. Rất tiếc chúng ta không có một chiếc máy ảnh ghi lại khi nào buồn dở ra xem cho đỡ nhớ.

Du thấy thời gian như chùng hẳn lại. Ánh nắng chiều rực rỡ trên mặt sông như đục hẳn đi. Một đám mây trắng bay ngang qua che khuất mặt trời. Tiếng động chung quanh cơ hồ lắn xuống và tâm hồn Du như tan biến vào trong lời thơ. Rồi đây, chàng có may mắn dừng chân trên một bờ sông hay biển vắng trong một chiều thu có gió heo may để tưởng nhớ lại cuộc tình tuyệt đẹp của người vợ, người tình muôn thuở mà cuộc sum họp thật mỏng manh. Du bảo:

– Đoạn sau của bài thơ cũng là lời khuyên của người ra đi cho người ở lại. Anh sẽ đọc cho em nghe nhé!

Du lấy giọng và khẻ ngâm:

Lấy câu khẳng khái tiễn đưa nhau
Em muốn cho anh khỏi thảm sầu
Nhưng chính lòng em còn thổn thức.
Buồn kia em dấu được anh đâu?

Em đứng nghiêng mình dưới gốc mai
Vin cành sương đượm lệ hoa rơi.
Cười rung tà áo trên thương tiếc,
Em bảo hoa kia khóc hộ người

Du thấy Minh đã ngã đầu lên vai mình. Mùi tóc quen thuộc thoang thoảng. Nhiều con diều giấy đang bay lượn trên bầu trời xanh. Dòng sông Sàigòn đục ngầu cuồn cuộn chảy. Du thấy quê hương quá đẹp. Một cô gái đẹp bận chiếc áo dài màu xanh nhạt đang tựa mình vào cây dừa, mắt đăm đăm nhìn xa vời làm Du nhớ lại cảnh cùng Minh dạo hồ Than Thở cách đây hơn hai mươi năm. Du chỉ Minh nhìn cô gái và bảo:

– Em còn nhớ lần đầu tiên anh đưa em đi thăm hồ Than Thở. Trước cảnh đẹp thiên nhiên, em dựa mình bên gốc thông đăm đăm nhìn mặt nước hồ trong xanh soi bóng rừng thông và rung động nhẹ khi có làn gió nhẹ thổi qua? Hôm ấy anh đã ngâm cho em nghe bài “Tiếng trúc tuyệt vời” của Thế Lữ. Em còn nhớ không?

– Kỷ niệm đẹp quá hả anh? Đến bao giờ em mới nghe lại được giọng ngâm thơ trầm và ấm của anh? Em mong ngày ấy thật gần và chúng ta sẽ sống được những ngày hạnh phúc triền miên bên nhau.

Trước khi ra về, cả nhà lại sốt sắng cầu nguyện xin Chúa ban cho một chuyến đi bình an và nhiều may mắn.

Tối hôm đó, Minh bảo Trí, An và Dung ôm hôn từ biệt Du và Tuấn lần cuối trước khi đi ngủ. Ôm các con đang khóc trong vòng tay, Du thấy tim mình vỡ vụn. Tuấn ôm hôn ba em và Minh. Tuấn hứa sẽ học hành chăm chỉ, vâng lời Du và làm thêm kiến tiền gởi về cho ba em sống.

Tối đó Du ôm Minh trong vòng tay của mình. Nước mắt Minh chảy ướt cả áo chàng. Ôi người tình, người vợ tuyệt vời! Đến bao giờ anh lại ôm được em trong vòng tay, kể cho em nghe những kỷ niệm xưa, đưa em vào giấc ngủ an bình. Minh đã tận hiến cho Du cả tinh thần lẫn thể xác trong đêm hạnh phúc cuối cùng mà ngày đoàn tụ thật mong manh.

Du thấy mình ngày càng yêu Minh hơn mặc dầu trước đây chàng lấy Minh chỉ vì bắt buộc. Cuộc sống khó khăn của gia đình giúp Du quên hẳn những người yêu khác và dành hết tình yêu cho Minh để đền bù những khó khăn mà nàng phải gánh chịu.

Sáng hôm sau, Minh dậy sớm, sửa soạn buổi ăn cuối cùng cho Du và Tuấn. Trước khi chia tay, Minh đã tháo chiếc nhẩn cưới một chỉ, vật kỷ niệm cuối cùng, đưa cho Du và bảo:

– Anh cầm lấy. Khi đến nơi bình an, anh bán đi, đánh điện tín về cho em. Em trông tin anh từng giờ, từng phút. Ngày anh bước lên được xứ sở tự do là ngày sung sướng nhất đời em.

Minh đưa cho Du và Tuấn mỗi người một chiếc bị lát trong có hai bộ đồ, hai ký đường và hai lít nước.

Du và Tuấn phải tự lo liệu lấy mọi việc để xuống điểm hẹn lúc 8giờ tối.

Khi Du đến nơi thì trời đã tối mịt. Mười tám người thuộc gia đình ông bác sĩ thú y và ông Tàu đều có mặt đang núp trong các bụi cây trên bãi biển. Ghe đậu ngoài xa và đang thả một chiếc ghe thúng vào bờ.

Chuyến đầu tiên đưa ra ghe lớn mười hai người. Khi ghe thúng trở vào lần thứ hai thì có một toán du kích địa phương trang bị súng ống dữ dằn, chạy xuống xin chủ ghe ra đi, nếu không thì sẽ bắt người và tịch thu ghe.

Sau này Du mới biết câu nói của người vợ chủ ghe hôm trước đã bị một du kích tình cờ nghe được và tổ chức cho cả bọn cùng ra đi. Chủ ghe chỉ biết riu ríu vâng lời cho mọi việc được êm xuôi.

Chỉ chở bốn chuyến là hết số người trên bãi. Cha con Du bị nhét vào hầm nhỏ trước mũi ghe. Hầm chật chội và thấp lè tè nên xoay trở khó khăn, nhưng Du đành lòng chấp nhận vì được đi không tốn tiền. Mọi người được lệnh nằm yên trong khoan và ghe bắt đầu chạy đến chỗ bốc thứ hai.

Khi đến địa điểm, ghe vẫn đậu ngoài xa. Theo như ước hẹn từ trước, chủ ghe bấm đèn pin ba chớp thì trên bờ bấm lại ba chớp để nhận nhau. Chủ sẽ đưa ghe vào bờ để bốc người.

Chủ ghe vừa mới tắt máy thì đã thấy đèn pin trên bờ chớp ba cái. Chủ ghe nghi ngờ nên không chớp đèn trả lời mà nằm yên theo dõi. Trên bờ có vẻ sốt ruột nên bấm thêm ba chớp nữa. Chủ ghe biết đã bị lộ vì sai ước hẹn nên lập tức nổ máy chạy.

Khi ghe bắt đầu nổ máy chạy thì trên bờ nổ súng bắn theo. Ghe chạy cách bờ khoảng năm cây số thì thấy một ghe công an đuổi theo.

Tài công được lệnh mở hết tốc lực chạy trốn. Ghe công an đuổi theo bén gót. Nhờ chở ít người nên ghe chạy nhanh. Nhưng ghe công an còn chạy nhanh hơn. Một giờ sau đã bắt kịp. Công an nổ súng chỉ thiên buộc dừng lại. Tài công được lệnh tiếp tục chạy. Ghe công an dùng đại liên bắn vào ghe vượt biên. Tiếng đạn rít trên không và chạm vào ghe làm nhiều người sợ quá khóc lóc thảm thiết.

Du kích dùng A.K. và M 16 bắn trả. Ghe công an giảm bớt tốc độ nhưng tiếp tục bắn. Một lúc sau thì ghe công an dừng lại không đuổi theo nữa.

Du cũng muốn lên khỏi hầm để phụ giúp ý kiến trong lúc lộn xộn. Nhưng khi cha con Du xuống hầm thì chủ ghe đã khóa kỹ phía trên, nên không làm sao thoát ra được. Tất cả những điều Du biết là chỉ qua tiếng động và lời nói nghe được của mọi người trên ghe.

Mọi người trên ghe reo mừng. Những người từ Sàigòn ra chỉ biết khóc than giờ đây cũng vui cười nói chuyện ào ào. Tất cả đều đổ xô lên boong để chào mừng chiến thắng.

Họ quên hẳn cha con Du đang bị giam trong hầm. Lúc đầu thật khó chịu. Nhưng lâu dần thân thể nhỏ lại và cha con Du đã tìm được một thế nằm thích hợp có thể chịu đựng lâu dài được.

Chủ ghe ra sau lái kiểm tra thì thấy thùng nước và thùng dầu đã bị bắn thủng, chảy gần hết. Như vậy là chỉ còn một thùng nước và một thùng dầu trong khoan mà thôi. Du nghe mà thấy chủ ghe quá ẩu. Chỉ có 400 lít nước và 400 lít dầu mà dám đưa gần ba trăm người ra đi đến Mã Lai hay Thái Lan được!

Sau cái vui ngắn ngủi thoát khỏi nanh vuốt của công an biên phòng thì đến cái lo to lớn là sẽ bị chết khát trên biển. Tuy thế mọi người vẫn còn hy vọng là sẽ được tàu ngoại quốc vớt.

Bây giờ trên ghe có 45 người. Họ đã quên hẳn cha con Du. Họ định mỗi người được phát hai ly nước trong một ngày. Việc nấu cơm và thức ăn cũng tốn một số nước. Những người từ Sàigòn ra hầu hết bị mửa nên khát nước nhiều.

Chủ ghe thấy chuyến đi không kiếm được bao nhiêu tiền nên tỏ ra buồn bực và gắt gỏng với mọi người. Bọn du kích thì không có kỷ luật, chỉ sống theo bản năng. Đùa dỡn chán, khát nước thì uống. Chủ ghe cự nự không được. Bà chủ ghe trách mắng bọn du kích luôn mồm, nhưng cũng không cho chúng vào khuôn phép được.

Sau một đêm ngủ vùi trong mệt nhọc, bọn du kích lại cười đùa vui vẻ. Bữa cơm sáng và ly nước đầu tiên được phát trong trật tự. Du biết thân phận mình nên không dám đòi hỏi gì chỉ cùng con nằm yên chịu trận. Du phát cho Tuấn một muỗng đường chanh và một ít nước, còn chàng thì rán nhịn. Lạ một điều là cha con Du không thấy khát nước bao nhiêu. Có lẽ vì không bị mửa, vì nằm yên trong mát, vì không khí biển chứa đầy hơi nước.

Đến 4 giờ chiều thì gặp một chiếc tàu ngoại quốc. Bọn du kích vui vẻ reo hò. Người kêu to cầu cứu. Kẻ lấy áo viết chữ S.O.S bằng than thật to và trương lên, nhưng tàu vẫn thản nhiên đi. Một du kích liền bắn một tràng A.K. với chủ ý để cho tàu nghe mà cứu.

Khi nghe tiếng đạn nổ, Du thất vọng vô cùng. Nếu chàng có mặt trên boong thì đã cản được việc làm ngu muội đó.

Đâu có phải tàu buôn không thấy họ? Thủy thủ đoàn trên tàu buôn đã thấy họ từ lâu và đang dùng ống dòm quan sát. Khi thấy du kích đều có súng trên tay, họ đã ngán bị cướp. Bây giờ lại thấy du kích nổ súng bừa bãi họ lại càng sợ hơn. Vì thế, họ đã không vớt mà còn đánh điện cho các tàu khác biết nữa. Từ đó đến tối đã gặp thêm năm tàu buôn khác, nhưng đều thất vọng khi thấy tàu buôn chạy thẳng.

Trong đêm đó, bọn du kích không ngủ. Họ chờ đợi trên boong để đón tàu buôn. Mỗi lần thấy một tàu buôn chạy qua, đèn đuốc sáng choang là họ la hét ầm ỉ, bắn súng rào rào. Nhưng cả sáu chiếc tàu gặp được đều chạy thẳng.

Sáng hôm sau, bọn du kích mệt mỏi và thất vọng. Chúng đòi ăn và uống nước nhiều, viện cớ là phải thức suốt đêm và la hét khan cả cổ.

Chủ ghe thấy các tàu buôn không vớt, dầu, lương thực và nước uống cạn dần nhanh chóng thì lo sợ. Ông ta rủ một số du kích đứng về phe mình và gác cửa phòng lái.

Ngày thứ ba thì xảy ra tranh chấp. Phe ông chủ không cung cấp nước và cơm cho bên ngoài nữa. Du kích bên ngoài nổi điên bắn vào bên trong.

Trận chiến xảy ra ác liệt. Cuối cùng phe bên ngoài thắng vì giết được hết bọn du kích bên trong. Những người nằm dưới khoan thì lo sợ chỉ còn biết nằm sát xuống đáy ghe chịu trận.

Hai bên chết và bị thương 15 người. Chủ ghe và tài công bị bắt, bị bắn ngay và vứt xác xuống biển. Tiếng kêu khóc, rên la thật khủng khiếp. Du không dám lên tiếng vì bọn người man rợ này đã mất hết lý trí rồi.

Số nước còn lại đã bị họ giành giựt uống hết một cách phung phí vì ai cũng muốn nuốt vào trong mình một số nước dự trử lớn để khỏi khát sau này. Họ đâu có biết rằng càng uống nhiều thì càng đi tiểu nhiều mà không tránh được cơn khát.

Số người còn sống bên chủ ghe bị đánh đập tàn nhẫn và lần lượt bị vứt xuống biển. Bà vợ chủ ghe chắc đã chết nên không còn nghe tiếng nói của bả nữa.

Họ lục soát trong ghe và tìm được tám chục lượng vàng. Họ vui mừng la ó vang trời vì từ xưa đến nay họ đâu có cầm được một lượng vàng trong tay. Họ quên hẳn tình trạng khó khăn sắp xảy đến. Họ bàn với nhau xuống khoan lục soát thêm những người từ Sàigòn ra và kiếm thêm được bốn chục lượng và hai nhẩn hột xoàn nữa. Họ chia nhau số vàng kiếm được.

Trong số 18 người từ Sàigòn ra có 5 cô gái. Bây giờ họ đã trở thành chủ nhân chiếc ghe lại có súng trong tay nên không còn kiêng nể ai nữa. Lòng dục nổi dậy khi thấy gái thị thành mà từ lâu chúng chưa bao giờ có cơ hội gần gũi.

Thế là chúng bắt hết cả năm cô lên phòng lái, mặc cho cha mẹ, bà con họ van xin thảm thiết. Chúng thay phiên nhau cưỡng hiếp. Tiếng kêu la của năm cô gái vang lên một cách thảm thiết và tuyệt vọng trộn lẫn với tiếng cười khoái trá của họ. Du nghe mà đau lòng khôn xiết.

Trải qua ba mươi năm nội chiến, bao nhiêu gia đình đã phải chịu cảnh khốn cùng? Khi chiến tranh chấm dứt mọi người đều vui mừng tưởng sẽ có được cuộc sống an vui. Không ngờ, hàng trăm ngàn gia đình bị đọa đày vì chồng con bị đi học tập cải tạo. Hàng trăm ngàn gia đình khác phải lầm than trên các vùng kinh tế mới. Hàng trăm ngàn người sống vất vưởng trên vỉa hè. Hàng vạn người chết trên biển khơi vì muốn trốn khỏi thiên đường cộng sản.

So với các tại họa mà các dân tộc khác trên thế giới phải gánh chịu trong mấy mươi năm qua thì sự đau khổ mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu còn bi thảm gấp ngàn lần. Bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam làm sao trả hết món nợ máu mà họ đã gây nên cho dân tộc? Đến bao giờ họ mới tìm được cái thiên đường hoang tưởng? Lịch sử sẽ nguyền rủa họ đến muôn ngàn đời.

Trong trận bắn nhau vừa qua thùng dầu bị lủng nên máy chỉ chạy thêm được một ngày nữa thì ngưng. Vì đây là mùa gió bấc, nên ghe trôi dạt về phía Nam và ngày càng xa hải phận quốc tế. Đến ngày thứ năm thì bọn du kích sống sót không còn có thể nhịn khát được nữa. Một người đề nghị giết các nạn nhân và lấy máu uống. Bây giờ thì họ biết quí những giọt nước nhưng đã muộn. Máu của người sống cũng đầy uré nên uống vào tuy đỡ khát nhưng lại gây mệt mỏi. Đến ngày thứ tám thì chỉ còn lại ông bác sĩ thú y già nua, ốm yếu. Ông ta biết phận mình nên bình tĩnh chờ.

Trong tám ngày qua cha con Du đã sống sót nhờ bốn ký đường và bốn lít nước mang theo. Du càng thương Minh hơn. Nhờ Minh lo xa mà cha con chàng mới được sống sót. Sau khi uống máu của ông bác sĩ thú y, một tên du kích nói:

– Tụi mình quên còn hai cha con đang nằm trước mũi ghe. Chắc chúng đã chết rồi vì tám ngày qua đâu được ăn uống gì. Nhưng mình cũng đến xem, nếu còn sống thì uống một chút máu cũng tốt.

Nói xong anh ta bước lại mũi ghe, cố sức mở khóa. Trong này Du đã sẵn sàng. Một mình không đủ sức mở, nên anh ta kêu thêm hai người nữa phụ vào.

Khi nắp hầm vừa mở ra thì Du đẩy mạnh lên làm ba anh mất thăng bằng té nằm bất tỉnh trên bong. Du đá mạnh vào ngực mỗi người thì thấy miệng họ ứa ra máu đen bầm. Những anh khác thấy thế nguy, nấp trong phòng lái, lên đạn nhắm về phía chàng.

Du cố sức cầm lấy nắp hầm làm bia chắn đạn và cố gắng bò về gần họ. Chàng nghe những tiếng ngã huỳnh huỵch phía trước mà không nghe tiếng súng nào.

Du nấp vào chiếc cột to của ghe, đưa mắt nhìn họ thì lạ thay chúng đã bị ngã xuống sàn cả, máu đen ứa ra miệng nằm chết giống như ba người vừa qua.

Khi đã chắc không còn ai sống sót trên ghe ngoài hai cha con chàng, Du kéo Tuấn lên khỏi hầm, dặn con nằm dài ra cho dản gân cốt. Du lục lọi mọi nơi để tìm nguyên nhân của chết kỳ lạ của những người còn sống sót.

Du lục hết trong người chúng thì thu lại được 120 lượng vàng và hai chiếc nhẩn hột xoàn. Lục trong người của bác sĩ thú y, Du thấy có chai thuốc bột cyanua thủy ngân đã uống gần hết.

Chàng đoán, ông bác sĩ này đã đem theo độc dược thuộc loại cyanure để nếu có rơi vào tay cộng sản thì tự tử. Chẳng ngờ ông buộc phải tự tử với những người cùng ra đi với mình. Khi đồng bọn uống máu của ông thì bị nhiểm độc ngay nhưng ít phút sau mới ngã ra như Du đã thấy.

Để kiểm chứng lại những ước đoán của mình, Du cứ để các xác chết nằm trên sàn ghe. Một lúc sau thì một bầy kên kên bay tới đậu trên những xác chết ấy, rỉa thịt ăn. Có nhiều con đang ăn thì lăn ra chết. Như vậy là ước đoán của Du không sai. Chàng cố gắng hất các xác chết xuống biển.

Nước và đường đem theo đã hết cách đây hai ngày, nên Tuấn cảm thấy mệt mỏi và khát nước vô cùng. Du dùng chiếc gàu múc nước biển lên đổ vào một cái thùng phuy đã bị cắt đôi dùng để tắm rửa trên ghe. Du bảo Tuấn ngồi vào thùng đầy nước và không được uống. Chừng nửa giờ sau, Tuấn thấy cơn khát giảm xuống nhiều và thân thể trở nên nhẹ nhàng hơn. Tuấn hỏi:

– Tại sao cha không cho con uống nước? Tại sao ngồi trong thùng phuy nước biển này thì cơn khát giảm đi và mình càng thấy khỏe hơn?

Du cắt nghĩa:

– Nước biển có rất nhiều muối. Nếu con uống vào thì càng khát thêm vì thận giữ nước lại và không hoạt động được nữa. Lúc ấy áp huyết và uré trong máu sẽ cao và con sẽ chết. Khi ngâm mình vào nước, các tế bào da sẽ tự động lọc lấy nước mà thôi, nên muối trong máu không tăng và con không cảm thấy khát vì tế bào không thiếu nước. Thận sẽ làm việc bình thường và thải các chất độc trong người ra và con thấy khỏe khoắn hơn.

– Tại sao những người trên ghe không biết áp dụng như thế để phải uống máu người và chết vì trúng độc?

– Họ đâu có học hành bao nhiêu mà hiểu được những bí ẩn trong thiên nhiên và con người. Vì thế con phải gắng học sau này nếu có dịp để khi gặp nguy biến thì có thể tìm cách thoát hiểm dễ dàng.

Du vui mừng đã chứng minh cho con thấy một bài học thực tế cần có những kiến thức khoa học mới biết áp dụng. Du lục mọi nơi và tìm thấy một số lưỡi câu trong vũng nước đen ngòm trộn lẫn với dầu nhớt ở lườn ghe. Du dùng những sợi cước cột các lưỡi câu vào thành từng chùm, móc các miếng cá khô vào từng lưỡi và bỏ xuống nước. Ghe theo gió di chuyển dần về hướng Nam. Cả ngày hôm ấy không bắt được con cá nào. Tuấn lả đi vì đói, nằm yên, cặp mắt trủng sâu. Du bảo:

– Con bị lả đi như vậy vì trong trí luôn luôn nghĩ đến cái ăn. Bây giờ cha dạy cho con một phép hít thở và thiền để con quên đi cơn đói đang hành hạ và thu hút được những năng lượng tốt từ ngoài vào làm cho thân thể khỏe lên.

Rồi Du chỉ cho Tuấn tư thế ngồi, động tác dùng ý để dẫn khí từ ngoài vào đĩnh đầu và chu lưu trên các kinh mạch. Làm sao dùng ý dẫn khí chu lưu tuần hoàn nối liền hai mạch nhâm đốc. Tuấn làm theo những chỉ dẫn và thấy khỏe dần. Tuấn khen:

– Con không ngờ con người có nhiều khả năng kỳ diệu đến thế. Sao cha không dạy cho các con từ nhỏ?

– Nếu cha dạy cho con không đúng lúc, con sẽ không thấy kết quả và không còn tin tưởng nữa. Đây là những kiến thức dành cho người lớn. Họ biết tin vào Thượng Đế sau những khổ đau đã gặp phải trên đường đời mà trí thông minh của mình không giải quyết được.

Cha đã dạy cho các con bài Thái Cực Quyền. Đó cũng là một cách dẫn khí chu lưu thông suốt bằng những cử động nhẹ nhàng và liên tục. Những năm qua các con ít đau yếu là nhờ bài quyền đó. Bây giờ gặp lúc hiểm nguy, cha dạy cho con hai phương thức trên. Con lãnh nhận và thực hành dễ dàng vì đã có bài quyền làm căn bản.

Tuấn gật gù thấm ý và nói:

– Cha còn những điều gì hay nữa thì dạy cho con đi.

– Con phải biết kính mến Chúa hết lòng và cầu xin Người ban cho con những ơn lành cần thiết. Khi gặp chán nản, khổ đau thì việc cầu nguyện với Chúa giúp con rất nhiều.

Con hãy nghe Chúa nói về cầu nguyện:

“Khi cầu nguyện, đừng bắt chước bọn giả hình, vì họ đứng trong nhà thờ hay các ngã tư đường cho nhiều người chú ý. Còn con khi cầu nguyện hãy vào phòng kín, đóng cửa lại vì Cha con ở nơi ẩn dật sẽ đền đáp cho con. Không kể lể dài dòng vì Cha đã biết hết những điều con xin. Các con hãy ca tụng, khen ngợi sự vinh hiển, toàn năng của Người. Xin cho con hằng ngày dùng đủ và tha thứ kẻ có nợ với con. Con không thể làm tôi hai chủ vì sẽ trọng kẻ này mà khinh kẻ kia. Con không thể vừa thờ phượng Chúa lại vừa thờ phượng tiền bạc được.

Con đừng lo lắng phải ăn gì, mặc gì để sống. Thử xem chim trời chẳng gieo, chẳng gặt mà Cha trên trời còn nuôi chúng. Các con chẳng quí hơn chúng sao?

Các con lo lắng thì có thêm cho mình được khắc nào không? Các con hãy xem hoa huệ ngoài đồng chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng dầu Salomon vinh hiển cả thể cũng không mặc đẹp bằng những hoa ấy.

Nếu cỏ đồng nay còn, mai mất mà Chúa mặc cho chúng đẹp dường ấy huống hồ các con, hởi những kẻ yếu đức tin kia. Vậy các con khỏi phải lo lắng, ăn gì, uống gì, mặc gì nhưng phải lo tìm nước Thiên Chúa trước đã và mọi điều khác sẽ thêm cho các con.

Vậy đừng lo cho ngày mai vì ngày mai sẽ tự lo cho ngày mai. Sự khó khăn ngày nào đủ cho ngày ấy. Trong các con có ai con mình xin bánh mà cho đá không? Xin cá mà cho rắn chăng? Nếu các con vốn là người xấu mà biết cho con mình của tốt thay. Huống chi Cha các con ở trên trời chẳng ban vật tốt cho các con sao?”.

Chung qui con cầu nguyện thế này thì đẹp lòng Chúa. Con vào chỗ kín, tập trung tư tưởng ngợi khen mọi kỳ công tốt đẹp Người đã ban cho nhân loại, cám ơn mọi ơn lành Người đã ban cho con và tất cả những người con hằng nghĩ đến và yêu thương. Con hối hận về những việc làm sai trái trong ngày và quyết tâm chừa bỏ, nhất là tính tham lam, kiêu ngạo, ích kỷ. Càng ngày con càng thấy những phút giây được nói chuyện với Chúa thật hạnh phúc, an bình, vui vẻ.

Còn thương yêu người khác thì con hãy nghe Chúa dạy:

“Các con hãy thương yêu kẻ thù nghịch mình, làm lành kẻ ghen ghét mình, chúc phước cho kẻ nguyền rủa mình, cầu nguyện cho kẻ lăng nhục mình.

Ai vả má phải thì con chìa má trái. Ai giật áo ngoài thì hãy tặng cho họ áo trong. Ai xin hãy cho. Ai đoạt thì đừng đòi lại. Hãy làm cho người khác những gì mình muốn họ làm cho mình.

Nếu các con yêu kẻ yêu mình thì có ơn chi? Làm lành với kẻ làm lành với mình thì có ơn chi? Hãy thương yêu và làm lành với kẻ nghịch.

Hãy cho mượn và đừng mong báo đáp thì phần thưởng các con sẽ lớn vì các con sẽ được làm con Đấng Tối Cao vì người làm ơn cho kẻ phụ ơn và kẻ ác. Hãy thương xót như Cha con đã thương xót. Chớ xét đoán để khỏi bị xét đoán. Chớ định tội để khỏi bị định tội. Hãy tha thứ thì sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ được cho lại vì các con dùng lường nào thì sẽ được lường lại như thế”.

Tuấn thắc mắc:

– Cha bảo Chúa là Đấng toàn năng, tất Người phải công bình. Con thấy cha đã làm ơn cho bao nhiêu người mà Chúa vẫn cho gia đình ta gặp quá nhiều khó khăn, nên tuy cha tin tưởng mãnh liệt vào tình thương Chúa, con thấy lòng tin mình ngày càng mất đi. Cha của các bạn con trước đây chuyên làm giàu bằng cách bán thuốc phiện đầu độc thanh thiếu niên, thế mà khi cộng sản chiếm Sàigòn ông ta đã đưa được gia đình sang Mỹ sống sung sướng. Như vậy Chúa đâu có công bằng?

– Người công giáo tin có đời sau. Mọi việc mình làm ở cõi đời ngắn ngủi này có ảnh hưởng lớn đến đời sống vĩnh cửu sau khi chết. Vì Thượng Đế Toàn Năng nên mới có đời sau để có sự công bằng tuyệt đối. Nếu ngay cuộc đời này đã có sự công bằng tuyệt đối thì cuộc đời đâu còn thú vị gì để sống.

Con thấy cộng sản chủ trương tạo lập công bằng tuyệt đối ở đời này nên đã buộc con người vào những khuôn khổ cứng nhắc, sắt máu. Gây bao nhiêu cảnh thương tâm, bất công, tàn bạo mà sự phân cách giàu nghèo giữa các đảng viên cầm quyền và dân chúng ngày càng lớn.

Chúa sinh ra con người với thông minh, tài năng, sức khỏe khác nhau, có một lương tâm để phán đoán việc xấu tốt và một quyền tự do lựa chọn những việc mình làm và chịu trách nhiệm. Gia đình của bạn con đã gặp quá nhiều may mắn trong quá khứ, lại chọn lựa việc ác để làm thì trước sau cũng sẽ gặp quả báo. Gia đình ta tuy gặp nhiều gian truân nhưng luôn được Chúa thương và nâng đỡ.

Nếu hôm trước mình đi có tiền, họ đã cho mình vào khoang giữa thì chắc gì còn sống đến ngày hôm nay. Nếu ông bác sĩ thú y không đem theo thuốc độc thì chắc gì chúng ta không bị bọn du kích uống máu. Cha luôn tin tưởng thế nào Chúa cũng cứu cha con ta ra khỏi cảnh khó khăn này. Con hãy nghe lời cha thực hành cầu nguyện và phép thở, con sẽ thấy được rõ ràng tình thương vô biên của Chúa trên con. Chúa Giêsu đã nhịn đói 40 ngày trong sa mạc để cho tinh thần được sáng suốt và thông công cùng Chúa Cha trước khi rao giảng Tin Mừng. Đó là một gương sáng cho ta noi theo.

Du vui mừng khi thấy Chúa đã cho chàng một cơ hội đặc biệt để dạy con mà nếu sống trong no đủ và hạnh phúc nó chẳng bao giờ chấp nhận. Tuấn nghe lời Du thực hành và cảm thấy cơn đói giảm đi và tinh thần trở nên sảng khoái hơn.

Hai cha con nhịn đói thêm hai ngày nữa thì Du câu được ba con cá lớn. Du móc ruột, gan vứt đi; bỏ cá vào nồi, chụm lửa riu riu để nước khỏi bay. Lâu lâu lại dở nắp ra hứng những giọt nước đọng trên thành nắp cho Tuấn uống.

Khi cá đã chín, hai cha con ăn một cách ngon lành và cảm thấy sức mạnh tăng thêm nhiều. Du biết mình đã đi vào một vùng có nhiều cá. Những ngày sau, luôn câu được cá. Cha con Du đã sống được những ngày tuyệt hão trước cảnh bao la, huy hoàng, của biển mà thấy được sự kỳ diệu của Chúa ban cho mình.

Năm ngày sau thì biển động mạnh. Chiếc ghe lắc lư như muốn chìm. Từng đợt sóng lớn đưa ghe lên cao và nhận chìm xuống đáy. Cha con Du đậy kín ghe cho nước khỏi tràn vào và nằm sát lườn chịu trận. Tiếng kêu răng rắc của chiếc ghe khi bị sóng đập mạnh tưởng chừng như bể đôi. Du chỉ còn biết cùng con cầu nguyện phú dâng hết mọi việc cho Ngài. May mắn cha con Du không bị say sóng, nên không mệt. Có lẽ nhờ hít thở mà khí huyết lưu thông dễ dàng, không chạy ngược nên mới chịu đựng qua cơn bão tố.

Sau cơn bão thì tiếp theo một trận mưa lớn. Cha con Du vừa tắm thỏa thuê cho sạch lớp muối đang bám trên người, vừa uống được một số nước ngọt cho đỡ con khát, vừa hứng thêm một số nước mưa để dành cho những ngày kế tiếp. Chưa bao giờ họ thấy được hạnh phúc và lòng thương của Thượng Đế đối với họ trong hoàn cảnh khó khăn này. Họ đã thành khẩn qùy xuống cám ơn và ca hát tôn vinh danh Ngài. Ngày hôm sau thì biển yên trở lại.

Ngày thứ hai mươi tám từ khi ghe rời khỏi Bình Tuy, Du thấy đất liền hiện ra ở chân trời. Du mừng thầm ghe sẽ tấp vào Thái Lan hay Mã Laai. Tuấn thấy một chiếc ghe từ trong bờ chạy ra nên chỉ cho Du. Khi chiếc ghe đến gần thì Du thấy ba người bận quần áo Việt. Người lớn tuổi có vẻ hiền lành và chân thật với chòm râu dài. Hai người trẻ thì có vẻ dữ tợn và ác. Khi nghe họ trao đổi với nhau bằng tiếng Việt để cập sát vào ghe chàng thì Du thất vọng hoàn toàn. Như vậy là chàng vẫn chưa ra khỏi Việt Nam sau hai mươi tám ngày lênh đênh trên biển. Khi ghe cập vào nhau, chàng hỏi ông cụ:

– Thưa cụ, đây là vùng nào?

– Đây là vùng ngoài khơi cửa Bồ Đề thuộc tỉnh Minh Hải.

Ba người bước qua ghe Du quan sát. Khi không thấy gì nghi ngờ, ông cụ bảo:

– Hãy qua ghe tôi nói chuyện.

Du bảo:

– Hai cha con cháu đã lênh đênh hai mươi tám ngày trên biển cả, nên đói, thèm cơm và khát nước lắm. Xin cụ cho chúng con ăn xong rồi hãy nói chuyện.

Hai cha con uống một bụng nước để chờ bữa cơm. Sau khi ăn uống no nê, Du đã kể lại cho ba cha con ông cụ nghe mọi chuyện trừ việc có trong tay một số vàng lớn. Ông cụ bảo:

– Kể lạ thật. Hai cha con cậu sống lênh đênh trên biển hai mươi tám ngày mà không chết khát! Ghe trôi dạt một đoạn đường dài như vậy mà không gặp một chiếc ghe đánh cá nào! Ba đêm qua, trong giấc ngủ, tôi thấy một bà bận áo xanh sáng láng bảo đem ghe ra vùng này để cứu người và sẽ được đền ơn xứng đáng. Hai lần đầu tôi không tin. Nhưng lần thứ ba thì tôi phải tin. Tôi nghĩ đó là Phật Bà Quan Âm đã báo mộng nên sáng nay tôi đã bảo hai đứa con đem ghe ra đây gặp cậu.

Tự nhiên Du cảm thấy một luồng điện chạy khắp người và một niềm cảm động dâng tràn. Chàng biết đó là Đức Mẹ đã hiện ra báo mộng. Chàng thầm cảm ơn Đức Mẹ. Du bảo:

– Xin cụ kéo ghe con ra khỏi mũi Cà Mau chừng 200 cây số và thả trôi. Cụ cho con một ít nước và lương thực. Con xin hậu tạ cụ một số tiền.

– Sáng nay tôi đi gấp quá nên chỉ đủ dầu để trở về. Không thể kéo ghe cậu ra xa được.

– Hay cụ để ghe chúng con ở đây. Cụ chạy ghe trở vào bờ lấy thêm dầu và lương thực rồi ra đây trở lại, kéo ghe chúng con ra khơi rồi bỏ mặc cho ghe theo gió trôi vào Thái Lan. Chúng con sẽ đền ơn cho cụ một số vàng lớn đủ chi tiêu cả đời.

– Không được đâu. Từ đây vào bờ rồi trở ra tốn cả ngày. Làm sao tìm lại ghe cậu được. Tiền đâu để mua thêm dầu?

– Vậy cụ định thế nào về số phận của hai cha con cháu?

– Chúng tôi sẽ đưa cậu về xã, tùy họ định liệu.

Du nghe mà rụng rời. Lại vào tù nữa. Bao giờ mới ra được? Du biết số vàng mình thu được không do công sức làm ra nên thế nào cũng gặp nạn nếu giữ nó. Vậy hãy đem nó ra chuộc sự tự do của hai cha con. Du đề nghị:

– Con thu được một số vàng lớn. Nếu cụ tìm cách giúp chúng con về nhà thì chúng con sẽ biếu cụ hết số vàng đó. Cụ gở chiếc máy trong ghe con. Chiếc máy Yanmar ba lốc này cũng bán được bốn chục lượng. Cụ đánh đắm chiếc ghe thì không ai biết. Cụ chở chúng cho về Cà Mau và bán máy.

Cụ sẽ có một số tiền ăn tiêu sung sướng cả đời. Nếu cụ nộp chúng con cho xã thì cụ sẽ mất số vàng lớn đó mà họ sẽ làm khó dễ vì nghi ngờ cụ còn dấu vàng trong tay. Chỉ có hai người thì việc qua đồn biên phòng không khó khăn. Đi ra thì kiểm soát kỹ, chứ đi vào thì dễ.

Thấy Du nói có lý, hai người con tỏ vẻ đồng ý. Họ kêu ông cụ ra trước mũi ghe và bàn bạc với nhau một lúc lâu. Sau đó ông cụ vào bảo:

– Chúng tôi đồng ý đề nghị của cậu. Vậy có bao nhiêu vàng bạc cậu hãy đưa ra đây hết.

Du thực thà về ghe lấy hết đưa cho ông cụ. Ông đếm được 120 lượng và hai chiếc nhẫn hột xoàn. Cả ba người há hốc mồm nhìn. Họ không ngờ tự nhiên lại được một số tiền lớn như vậy. Họ lấy hết, không cho Du một lượng nào. Tuy nhiên họ trở nên vui vẻ, rộng rãi hơn, nấu thêm cơm cho hai cha con Du ăn vì họ biết Du vẫn còn đói. Hai người con định kéo luôn chiếc ghe về nhà để làm của riêng thì Du can thiệp :

– Hai anh làm như vậy thì mọi chuyện đổ bể và không giữ được số vàng đang có trong tay.

Du không ngờ con người lại tham lam như thế! Thấy của là họ tối mắt. Ông cụ nghe Du nói có lý nên bảo hai con :

– Đừng ham gì chiếc ghe mà hư chuyện lớn. Hãy qua gở máy rồi đánh chìm thì an toàn hơn.

Hai người đành nghe theo lời cha mà tia nhìn vẫn còn nuối tiếc. Ho liền sang bên ghe Du gở máy. Khi họ đưa máy qua và đánh đắm ghe xong thì trời đã tối.

Du đang ngủ mê thì giựt mình thức giấc. Du nằm yên nhìn thì thấy hai người con trai của ông cụ, mỗi người cầm một khúc cây nhẹ nhàng đến chỗ Du ngủ.

Du tỉnh hẳn và chuẩn bị sẵn sàng. Người thứ nhất đập một cây vào đầu Du. Chàng nghiêng mình tránh khỏi và đạp mạnh vào chân anh ta. Ảnh vừa té xuống thì người thứ hai đã đập thêm một cây vào ngực Du. Du nhanh nhẹn đứng hẳn dậy và đẩy người thứ nhất hứng đòn cho mình. Anh ta la lên một tiếng lớn và ngã ra bất tỉnh.

Người còn lại hoảng hốt múa loạn xạ để thủ thân. Du liệng chiếc mền vào mình anh ta thì ảnh lúng túng ngay. Du nhanh nhẹn đến phía sau đánh một đòn mạnh vào gáy và đá một cú ngay hạ bộ, anh ta ngã xuống bất tỉnh. Ông cụ nghe tiếng động, thức dậy, thắp đèn bước ra ngoài. Khi thấy Du cầm cây thủ thế và hai con bất tỉnh trên sàn ghe, ông cụ run run bảo:

– Việc gì xảy ra thế? Sao cậu lại đánh hạ hai con tôi?

Một ý nghĩ đen tối thoáng qua đầu Du: “Hay ta hạ nốt ông già và trói ba cha con lại. Lái ghe đến Thái Lan”. Tự nhiên Du thấy xấu hổ. Nếu không nhờ họ, chắc gì Du không gặp công an và vào tù. Tại sao lại gây đau khổ cho những người ra tay giúp mình? Du phần trần:

– Không phải cháu đánh họ. Chính họ tập kích cháu bất ngờ. May mà cháu thức dậy kịp thời và có ít võ phòng thân nếu không đã bị chết dưới tay họ rồi. Bây giờ cháu có dư sức trói ba cha con cụ lại, lái ghe ra khơi. Khi hết dầu ghe trôi theo chiều gió và tấp vào Thái Lan. Lúc ấy người Thái Lan sẽ lo liệu cho ba cha con cụ.

Ông cụ đặt đèn xuống sàn ghe, quì xuống lạy Du và nói:

– Tôi đã bỏ công ăn việc làm ra đây cứu cậu. Hai đứa con tôi làm bậy thật. Tôi xin cậu nghĩ tình mà bỏ qua cho. Suốt đời tôi bám lấy quê hương. Gia tài, sự nghiệp, con cái, cháu chắt đang chờ. Tôi làm sao sống nổi xứ người khi không biết một chút sinh ngữ nào cả? Cậu ra điều kiện gì tôi cũng chịu, nhưng xin đừng đưa chúng tôi vào Thái Lan.

Du đến đỡ ông cụ dậy và bảo:

– Tôi chỉ dọa cụ thôi. Suốt đời tôi chưa làm hại ai mặc dầu có lợi bao nhiêu đi nữa. Tôi sẽ chữa cho họ tỉnh dậy. Nhưng cụ phải hứa để cho cha con tôi được về Sàigòn bằng yên. Đó là cách hay nhất cụ trả ơn cho tôi.

Ông cụ vui mừng cầm tay Du khen:

– Đây là lần đầu tiên tôi gặp được một người nhân hậu như cậu. Ông trời sẽ thưởng công cho cậu. Tôi xin lấy danh dự bảo đảm cho hai cha con cậu về Sàigòn an toàn cùng với giấy tờ hợp lệ.

Du đưa hai người vào phòng lái, ấn vào huyệt bách hội một lúc thì họ tỉnh dậy. Du bảo:

– Tôi biết hai anh định giết tôi vì nghi ngờ tôi còn giữ một ít vàng bạc trong người và muốn diệt trừ hậu hoạn. Bây giờ tôi cho phép các anh lục soát để yên tâm. Các anh mà tố cáo cho tôi vào tù, tôi cũng tố cáo lại các anh đang giữ trong tay một số vàng lớn thì các anh ở tù mà số vàng kia cũng mất. Tốt hơn hết là các anh giúp tôi về Sàigòn bình yên để giữ được số vàng kiếm được.

Thấy Du biện luận hữu lý, hai người xấu hổ cúi đầu làm thinh.

Ghe vào cửa Bồ Đề một cách dễ dàng. Thấy bọn công an kính trọng cụ già, Du đoán ông ta cũng là một đảng viên cao cấp trong tỉnh, đã góp nhiều công sức trong hai cuộc chiến tranh vừa qua, nay về hưu.

Du cảm thấy ưu phiền khi biết những đảng viên cộng sản ở bất cứ cấp bậc nào thấy vàng thì tối mắt. Họ đã lấy được một số vàng lớn mà còn muốn giết cha con Du để kiếm thêm nữa. Những người này mà cai trị thì nhân dân ngày càng cùng khổ hơn. Thấy Du thành thật, họ ân hận về những việc đã làm, nên muốn đền bù. Họ lên bờ mua thật nhiều đồ ăn và gạo. Nhịn đói lâu ngày nên hai cha con Du ăn hoài cũng không no. Ông cụ vui thấy cha con Du ăn một cách ngon lành. Ông bảo:

– Nhà tôi ở Đất Mũi. Tôi thường hay đánh cá ở vùng bắt gặp được ghe cậu. Vì thế khi được báo mộng, tôi đến ngay. Bây giờ tôi cho đứa con lớn về xã xin giấy di chuyển cho cậu về Đồng Nai. Nó sẽ lên huyện xin giấy tiếp và sẽ gặp nhau tại Cà Mau và tôi sẽ xin giấy di chuyển cho cậu do tỉnh cấp thì mới hơp lệ. Trong khi chờ đợi tôi sẽ cho cậu đi xem những địa danh nổi tiếng của Cà Mau. Ba ngày sau chúng ta sẽ về đến thị xã.

Ghe di chuyển mọi nơi dễ dàng vì công an và du kích địa phương đều kính nể ông cụ. Ông ta đã chỉ cho cha con Du biết những kinh rạch chằng chịt, những cánh rừng đước ngút ngàn, những cánh đồng lúa mênh mông xanh tươi. Du không ngờ đất nước lại có một vùng trù phú như thế!

Mỗi chặng đường đều có cái hay, cái đẹp mà cha con Du chưa hề biết qua. Ông cụ cũng chỉ cho Du những ngỏ ngách đi vào các địa danh như: Ông Trang, Năm Căn, Cái Nước, Cái Đôi Vàm, Cái Keo, Chà Là, Cái Nảy, Sông Ông Đốc, Hàm Rồng. Ông cụ nói:

– Nếu cậu ở ngay Đất Mũi hay Ông Trang thì việc vượt biên rất dễ. Chỉ chờ đến tháng ba khi sóng yên, biển lặng thì với một chiếc ghe nhỏ máy đuôi tôm cũng có thể đến Mã Lai hay Thái Lan được. Điều khó nhất là nhân dân ở đây không thích người vượt biên. Trước đây họ là những người trung kiên cho kháng chiến nên nay họ được chính phủ nâng đỡ cho làm ăn tự do, không vào hợp tác xã.

Lúa và cá quá nhiều nên nhân dân sống rất sung túc. Dân Sàigòn lớ ngớ xuống là bị bắt ngay mặc dầu có giấy tờ đầy đủ. Muốn đi lại phải có một chiếc ghe vì sông rạch là đường. Chỉ ở hai bên bờ sông, rạch mới có đường đất nối liền xóm này với xóm kia. Còn muốn di chuyển xa thì phải dùng ghe mới thuận tiện. Những xóm cách nhau quá xa thì không có đường đất nối liền đâu.

Du đã học hỏi được rất nhiều trong ba ngày du ngoạn ấy và nhớ kỷ những điều khuyên thực tiễn của cụ già.

Khi ghe ghé Cà Mau, Du xin phép Cụ Tư, tên ông già, dẫn con lên bờ. Du tìm thấy một thánh đường. Hai cha con đã vào đó cầu nguyện sốt sắng, cảm ơn Chúa và Đức Mẹ đã ban ơn giúp cho họ qua được cơn thử thách gay go và tránh được phải ở tù. Cụ Tư bán được cái máy cho một tổ chức vượt biên lấy ba mươi lăm lượng vàng. Cụ cho Du năm lượng, ba trăm đồng bạc và nói:

– Nhờ ý kiến của cậu mà chúng tôi kiếm được một số vàng lớn. Tôi cũng tưởng máy chỉ bán được ba chục lượng. Nhưng gặp người cần, thấy máy tốt nên thêm được năm lượng. Nhờ cậu tán hay quá mà họ tin tưởng mua. Đó là phần công lao của cậu. Đây là giấy di chuyển do tỉnh cấp. Thôi cậu sửa soạn về nhà gấp để vợ con chờ.

Du lạy tạ cám ơn cụ Tư. Cụ đưa Du ra bến xe và tận tay mua vé cho cha con Du về Sàigòn. Ngồi trên xe Tuấn hỏi:

– Khi đưa vàng cho họ sao cha không dấu bớt đi một ít để dùng sau này?

– Đó là của phi nghĩa. Nếu cha dấu lại thì Chúa đâu cho cha tỉnh giấc kịp thời phá tan âm mưu của họ. Trước sau gì rồi họ sẽ bị nạn vì số tiền ấy.

Đến Sàigòn thì đã chín giờ tối. Cha con Du thuê một chiếc xích lô về nhà. Du lặng lẽ mở cổng mà trong nhà không hay biết. Minh cùng ba con quì trước bàn thờ cầu nguyện:

– Lạy Chúa, xin cho hai người được tai qua nạn khỏi, được đến bến bờ tự do, cho chúng con được tin tức của họ mau chóng.

Vừa dứt lời thì Du và Tuấn đã vào nhà. Minh quay lại thấy thì hoảng sợ, ôm ba con nhỏ thụt lui vào trong góc. Du biết tâm trạng của nàng nên bước đến ôm mọi người vào lòng bảo:

– Anh và con đã được tai qua nạn khỏi như em cầu nguyện, nhưng không đến được bến bờ tự do.

Minh ấp úng:

– Anh và con về thật đó à? Đừng dỡn với em và ba con mà tội nghiệp. Sao hai người đen thui như cột nhà cháy vậy?

Du biết những ngày trôi trên biển, luôn luôn tiếp xúc với nắng gắt nên da đã đổi màu và phải cần một thời gian mới phai nhạt. Biết Minh và ba con đang sợ, Du an ủi:

– Em và ba con đừng sợ. Anh là người chứ không phải là ma đâu. Mình lên lầu nói chuyện tiện hơn.

Lúc ấy Minh mới tin là thật. Nàng vui mừng ôm chầm lấy Du và Tuấn mà nước mắt chảy quanh. Ba đứa nhỏ cũng vui mừng không kém khi gặp lại cha và anh. Du cảm thấy một nỗi vui to lớn khi gặp lại gia đình sau một tai nạn khủng khiếp. Khi lên lầu, Minh bảo:

– Khi anh đi xong thì có người từ Bình Tuy vào cho biết ghe đã bị công an rượt theo bắn. Nhưng giữa chừng thì ghe công an bị trục trặc máy nên phải quay về. Em vui mừng tưởng anh và con đã đến đất tự do. Đêm nào cũng cầu nguyện, Tại sao hai cha con lại về?

Du kể hết cho mọi người nghe câu chuyện và kết luận:

– Anh cảm ơn em nhiều lắm. Nhờ bốn ký đường và bốn lít nước của em mà hai cha con mới sống sót được đến ngày hôm nay.

Minh bảo:

– Khi anh kể chuyện em nghe mà nổi da gà từng lúc. Có những gia đình đi bị chết hết. Trước khi đi, họ gởi nhà cho người hàng xóm mỗi đêm qua bật đèn lên để phường khóm khỏi nghi ngờ. Nếu chuyến đi không thành thì khi trở về họ không bị mất nhà. Đến ngày thứ tư, người vợ vừa qua bật đèn lên thì hoảng hốt, tắt đèn ngay và xỉu xuống, bất tỉnh. Người chồng chờ lâu không thấy vợ về, nên cho con gái lớn qua. Cô ta cũng bật đèn lên, tắt đèn ngay và xỉu xuống như mẹ. Người chồng chờ một lúc không thấy hai mẹ con về nên chạy qua mở đèn và la to chạy ra khỏi cửa. Anh ta gọi hàng xóm trở lại mở đèn lên thì thấy vợ con anh ta đang ngất xỉu trên nền gạch. Mọi người xúm lại cứu một hồi thì hai người mới tỉnh.

Họ cho biết là thấy gia đình người chủ nhà ngồi quanh chiếc bàn, quần áo ướt, mặt mày xanh xao, đầu tóc bù xù. Họ biết chắc là hồn ma hiện về thăm căn nhà xưa. Một cán bộ cộng sản được cấp phát căn nhà trên. Tối nào cũng bị con cái người chủ cũ dựng dậy đòi nhà. Họ chỉ ở được một tháng thì dọn đi vì ai cũng sợ. Một đảng viên cộng sản khác đến ở cũng bị như vậy. Ông ta khôn hơn, nhờ một thầy cúng tới chiêu hồn và lập đền thờ thì không bị quấy nhiểu nữa.

Sống trong chế độ này như xem phim Hitchcock. Chắc có ngày em điên mất. Bao nhiêu biến chuyển dồn dập mà cái nào cũng khiếp đảm hết. Làm sao anh và con phải rời ngay đây càng sớm càng tốt. Nếu con bị bắt thì em khó mà sống nổi. Chúa đã thử thách chúng ta quá nhiều. Anh đã giúp được bao nhiêu người ra đi một cách suông sẻ mà gia đình mình thì lận đận hoài.

– Anh không hối tiếc hay than trách gì cả. Chúa cho sao thì nhận vậy. Trong chuyến đi vừa qua anh đã tìm được Chúa với lòng tin mãnh liệt. Tuấn đã tiến xa trong đức tin và thiền định. Đó là căn bản cho cuộc sống nội tâm sau này.

Tuấn đã thực sự biết con người không phải chỉ sống nhờ cơm và nước mà còn nhờ ơn Chúa nữa. Tuấn đã chấp nhận được cuộc sống hiện nay chỉ là cỏi tạm để sửa soạn cho một cuộc sống vĩnh viễn tốt đẹp mai sau. Tuấn có đủ sức chịu đựng mọi thử thách nhờ thiền và cầu nguyện. Tuấn đã trưởng thành nhiều so với bạn bè cùng lứa.

Trong chuyến đi vừa qua Chúa đã ban cho chúng ta nhiều ơn lạ. Người đàn bà mặc áo xanh đến báo mộng cho ông cụ chính là Đức Mẹ mà chúng ta hằng tôn thờ và kính mến.

Trong một tháng sống trên biển, anh thấy nếu mình tự làm lấy một chiếc ghe nhỏ để đi thì hy vọng đến 90%. Cứ đi theo người ta thì tính mạng mình dễ lâm nguy lắm. Bọn tổ chức chỉ nghĩ đến thu được nhiều vàng chứ không hề nghĩ đến sự sống chết của thuyền nhân và chính họ trên biển cả. Họ luôn ỷ lại vào tàu ngoại quốc cứu.

Anh và con có được lợi điểm là không bị say sóng vì biết hít thở để điều hòa khí huyết. Làm sao mình xuống được Cà Mau làm một chiếc ghe nhỏ thì có thể đưa cả gia đình ra đi bình yên. Kinh nghiệm thật đắt giá. Nhưng rút tỉa đuợc những ưu khuyết điểm và tìm được một con đường tốt để ra đi thì mới đáng quí. Ngày mai anh sẽ đưa con lên rẫy sớm và sẽ về Sàigòn bắt tay vào tổ chức một chuyến đi khác.

Thấy Du đến thăm, vợ chồng Long ngạc nhiên vô cùng. Long bảo:

– Mày đã đi được hơn tháng rồi. Tao tưởng mày đã thành công. Không ngờ vẫn thất bại. Kể lại cho tao chuyến vượt biên vừa qua đi.

Du kể hết cho vợ chồng Long nghe những khó khăn mà hai cha con đã chịu đựng trong hơn tháng qua. Long lắc đầu than:

– Người ta chỉ đi có một lần là được. Mầy đã ba lần mà chẳng tới đâu. Hay cứ ở lại đây làm ăn. Tao sẽ giúp mày làm giàu nhanh chóng.

– Mày không nhớ là đứa con đầu của tao đã bị liệt vào loại phản quốc sao? Tao làm sao yên tâm làm giàu khi nó phải giam mình trong chốn rừng thiêng, nước độc. Tao nghe Minh bảo mày biết một đường dây chuyên ăn cắp các thuốc cứu trợ của ngoại quốc. Mầy có thể giới thiệu cho tao được không? Tao cần làm tiền một thời gian để có đủ sức tự mình làm một chiếc ghe ra đi.

– Tao có biết. Nhưng muốn làm ăn vố này vốn phải lớn và phải có một hệ thống tình báo tinh vi. Việc này chỉ có ba Tàu Chợ lớn mới dám làm thôi. Mày muốn làm tao sẽ giới thiệu. Nhưng phải coi chừng bọn công an kinh tế đang theo dõi sát nút. Nếu bị bắt thì khó có ngày ra. Tao biết họ đã ăn cắp được 100 kg bột tétra và 100 kg bột B12. Nếu mua được bán lại cho các labo lậu thì kiếm được khoảng 200 lượng vàng.

– Sao mày không nhảy vào vụ này?

– Tao có những vụ khác tuy không lời nhiều, nhưng an toàn hơn mà vốn nhỏ. Tương lai tao còn dài. Tao không dại gì nhảy vào chỗ nguy hiểm.

Du định liều một chuyến. Nhưng không ai cho mượn tiền đành bỏ cuộc. May cho chàng người Tàu vừa chở hàng về nhà là bị công an thộp ngay. Long tìm đến chia vui cùng Du và hỏi:

– Mày muốn làm tiền nữa thôi?

– Khi nào tao cũng muốn có tiền để ra đi cho sớm.

– Mày đứng ra thành lập một tổ hợp hóa chất đi. Tao sẽ lo thủ tục cho mày từ A tới Z. Mày mướn một căn nhà kèm theo một mãnh đất rộng trong vùng Đầm Sen là tốt nhất.

Hiện nay bọn Tàu đang biến cao su non thành cứng để làm dép và đồ điện. Họ cần oxýt kẽm. Thị trường đang khan hiến, nên giá rất cao. Trong khi đó thì bên hảng pin của chính phủ đang cần Chlorure kẽm. Mày xin họ cung cấp oxýt kẽm và acit chlohydrique để biến chế. Thực sự mày bán oxýt kẽm ra chợ đen và mua kẽm vụn đổ acit vào để biến chế thành Clorure kẽm. Việc này chưa ai nghĩ ra vì quá mới. Mày phải làm nhanh. Để lâu nhiều người biết thì khó cạnh tranh.

Du lập tức thi hành và kiếm được mười lượng vàng thì nhiều tổ hợp hóa chất mọc lên như nấm. Du đành bỏ cuộc. Long lại bảo Du:

– Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang cần nhiều phèn chua lọc nước. Mày lập tổ hợp điều chế phèn chua. Tao sẽ lo mọi thủ tục trong thời gian ngắn nhất. Phải chụp giựt nhanh nếu không thì muộn.

Du được cung cấp một số acide sulfurique và soude thặng dư. Lúc đó phong trào sản xuất xà phòng từ dầu dừa đang cực thịnh. Muốn nấu được xà phòng thì phải có soude. Du bán số soude thặng dư ra thị trường chợ đen và kiếm thêm một số tiền nữa thì cũng phải ngưng vì có một tổ chức ăn cắp hàng ngàn tấn soude đem bán ra ngoài với giả rẻ.

Tuy gặp toàn rủi ro từ khi cộng sản xâm chiếm miền nam nhưng linh khí của dòng sông Thu Bồn vẫn sôi sục trong tim Du và chàng nhất quyết tiến hành chuyện vượt biên dẫu gặp khó khăn bao nhiên đi nữa.

—>Chương 33
<— Mục Lục

 

Advertisements
This entry was posted in THU BỒN, Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s