THU BỒN: Phần 5- Chương 34


hoianPHẦN NĂM:
Giai đoạn từ 1975 đến 1982

CHƯƠNG BA MƯƠI BỐN
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay

Chuyến thứ năm.

Du bàng hoàng khi nghe tin Trung quốc đã xua quân tràn qua biên giới với quyết tâm cho đảng cộng sản Việt Nam một bài học về sự bội bạc của họ. Tuy sự việc xảy ra đúng như dự đoán của chàng, nhưng Du vẫn thấy lo lắng cùng cực. Nếu Việt cộng không đủ sức đánh trả những đòn đích đáng thì nguy cơ bị Trung quốc xâm lăng là một đại họa cho dân Việt. Lịch sử đã cho thấy ách đô hộ của người Tàu khủng khiếp nhất.

Du càng buồn hơn nữa khi thấy đồng bào vì bất mãn với chế độ mà vui mừng khi nghe tin Trung cộng xâm lăng và ước mong họ chiến thắng. Đồng bào đâu có nghĩ rằng bọn lãnh đạo Đảng sẽ chết sau cùng và tất cả tai họa đổ lên đầu nhân dân vô tội.

Cuộc nội chiến ba mươi năm qua đã tàn phá tan nát quốc gia từ tinh thần đến vật chất. Nếu chiến tranh kéo dài thêm mười năm nữa đối đầu với bọn cộng sản hung tàn Trung quốc thì biết đến bao giờ nhân dân mới được sống trong hòa bình? Trình độ dân chúng còn quá thấp thì làm sao lật nổi ách thống trị của cộng sản được? Du xấu hổ khi thấy mình thiếu bổn phận đối với quốc gia. Nhưng tập đoàn lãnh đạo đảng cộng sản đâu cần chàng trong chiến tranh?

May mắn Trung quốc chỉ đánh phá các tỉnh biên giới trong vài tuần rồi rút quân về. Du thở phào nhẹ nhõm.

Tuy tình hình gay go, nhưng việc tổ chức cho người Hoa vượt biên vẫn tiếp tục tiến hành.

Ngày khởi hành cả ba trăm người quần áo bảnh bao, tập hợp tại ba địa điểm khác nhau. Mỗi địa điểm có hai xe đò đợi sẵn. Bảo, gia đình Phát đi trên một xe. Gia đình Du đi trên một xe khác. Mỗi lần xe dừng lại các bến phà thì người Hoa đổ xuống ăn uống tưng bừng làm đồng bào bàn tán xôn xao.

Chừng 4 giờ chiều thì đến Rạch giá. Công an xét giấy kỹ càng từng gia đình một và cho lên ba ghe chạy đến Tây yên. Đấy là một xã nằm sát bờ biển. Tám giờ chiều, công an lại xét giấy thêm một lần nữa và từng gia đình lần lượt lên ghe lớn. Ghe dài 20m, rộng 5m.

Thanh niên nam nữ, đàn ông được xếp xuống từng dưới. Đàn bà trẻ con được xếp ở từng trên. Do uy tín mạnh của cha Phát mà công an không dám gởi người theo. Tuy có chật chội, nhưng vẫn còn có thể xê dịch được. Mỗi người được phát cho một số bịch nylông để tiêu, tiểu hay mửa vào đấy. Nước được chuyền tay từng người trong các chai nhựa có ống hút để khỏi bị phí phạm.

Để cho việc điều hành không gặp trở ngại, những người trong ban tổ chức đồng ý là trong phòng lái chỉ gồm tài công, thợ máy, Du, Bảo, Phát và ba đại diện người Hoa. Tất cả những người ra đi đều được sắp theo ưu tiên đã được qui định. Nhờ thế Du không phải chạm trán với Hà, cha mẹ, chú thím cùng anh em nàng.

Mọi người đều vui vẻ tuân lệnh vì ước mong rời khỏi đất liền càng sớm càng tốt. Công an đã phái một tàu tuần đi theo. Chiều ngày hôm sau thì ghe đi ngang qua đảo Thổ chu. Công an chỉ hướng cho tài công lái thẳng vào hải phận quốc tế. Họ vẩy tay từ giả và quay ghe vào bờ. Mọi người thở phào nhẹ nhỏm khi biết chắc là không còn bị công an gạt nữa. Ghe chạy đến sáng hôm sau thì vào hải phận Mã Lai.

Du bảo tài công đổi hướng hai mươi độ tây của nam để vừa chạy về nam vừa chạy vào gần bờ. Đến trưa thì mọi người vui vẻ khi thấy đất liền hiện ra lờ mờ ở chân trời.

Khoảng xế chiều, thì có một tàu tuần treo cờ Mã Lai từ trong bờ chạy ra. Họ ra lệnh cho ghe phải đổi hướng ra khơi. Ai nấy đều vui mừng khi biết đã vào được hải phận Mã Lai và không bị cướp Thái Lan.

Mọi người đồng ý là cứ ủi đại vào bờ. Nhưng tàu tuần Mã Lai bắn súng chỉ thiên đe dọa. Vì thế tàu phải quay hướng ra khơi. Ban tổ chức hội ý với nhau đi đến kết luận là cứ chạy ra khơi cho tàu tuần không theo dõi nữa, chờ đến khuya sẽ quay hướng tấp vào bờ.

Đúng như dự đoán, đến khuya thì tàu quay hướng vào bờ mà không bị tàu tuần ngăn cản. May mắn tàu tấp vào được một bãi biển không có đá ngầm. Khi lườn tàu chạm cát và không di chuyển được nữa thì hai thanh niên được lệnh xuống ghe lên bờ quan sát.

Một lúc sau, họ trở về bảo là trên bãi biển không có người. Mọi người vui sướng xuống ghe, lội nước vào bờ. Du giúp Minh và các con nhảy xuống ghe, đưa vào bờ rồi trở ra ghe để giúp những người khác.

Thấy Phát và Hà đang lúng túng với đàn con đông đúc. Bảo lăng xăng bên cạnh Hà mà cũng không giúp được gì vì không ai được làm trái lệnh của Phát.

Từ lúc lên ghe, Du đã để ý thấy mọi người trong gia đình Phát đều bận áo phao. Du thầm khen Phát biết lo xa. Bây giờ Du nghe Phát ra lệnh cho những đứa lớn cởi áo phao bỏ trên sàn ghe, nhảy xuống nước, nhận lại áo phao do Phát trao lại, giữ chặt trên đầu và cẩn thận đi vào bờ, Du càng thấy lạ hơn.

Nước sâu đến ngang cổ, nên một đứa khi đưa tay nhận áo, mất thăng bằng do sức đẩy của nước, suýt chìm. Du lanh tay chụp lấy chiếc áo phao giúp nó thì thấy chiếc áo rất nặng, chứa đầy vật cứng và giấy bên trong.

Phát la lối om sòm, muốn nhảy xuống can thiệp thì thằng nhỏ trồi lên khỏi nước và giựt chiếc áo phao từ tay Du, giữ chặt trên đầu và đi vào bờ. Du hiểu ra, Phát đã dùng các chiếc áo phao để chứa vàng và đôla, chứ không phải để cấp cứu khi cần thiết.

Du không muốn làm cho Phát lo sợ nữa nên đến giúp đưa trẻ nhỏ của những người Hoa khác vào bờ. Bây giờ thì Du mới hiểu tại sao cha mẹ và anh em Hà không thèm giúp Phát trong việc di chuyển đầy khó khăn này. Chắc là giữa họ đã có những rạn nứt trầm trọng.

Khi những đứa lớn đã vào đến bờ bình yên thì Phát cởi áo phao đưa cho Hà giữ và nhảy xuống ghe đưa tay nhận đứa nhỏ nhất không bận áo phao vào bờ. Gia đình Phát là những người cuối cùng rời khỏi ghe.

Du lấy làm lạ là Hà tuy đã ngoại tình với Bảo, hận thù Phát, nhưng vẫn vâng lời và sợ Phát. Có lẽ tình mẫu tử thiêng liêng đã buộc chặt nàng vào bổn phận.

Khi tất cả thuyền nhân đã lên bờ thì ban tổ chức hội ý và quyết định phá hư máy để ghe không còn chạy được nữa mặc dầu Du phản đối.

Sáng hôm sau đã thấy đồng bào Mã Lai tụ tập chung quanh quan sát. Sau đó quân đội và cảnh sát được phái tới. Họ tập trung thuyền nhân trên một bãi cát trống, không một bóng cây và dùng giây thép gai vây quanh. Ban tổ chức đại diện đồng bào ra nói chuyện với cảnh sát. Họ cho biết theo lệnh của chính phủ Mã Lai, không ai được phép lên bờ. Thuyền nhân bắt buộc phải xuống ghe để đến một xứ khác.

Bảo nói:

– Ghe chúng tôi đã hư máy rồi, không đi được nữa. Chúng tôi xin phép các ông cho gặp đại diện Liên Hiệp Quốc để xin giúp đỡ.

Một chỉ huy cảnh sát trả lời:

– Không có một đại diện Liên Hiệp Quốc nào ở đây cả. Các ông nhập biên bất hợp pháp nên không được phép vào bờ.

Phát nói:

– Chúng tôi đã bị cộng sản tàn ác xua đuổi, cướp hết tài sản, xông pha hiểm nguy để tìm đất tự do. Chúng tôi chỉ xin các ông che chở, đùm bọc một thời gian rồi sẽ đi định cư tại những nước khác, chứ không ở lại đây đâu.

Du không ngờ Phát là một tên công sản nằm vùng từ bao năm qua mà cũng mạnh miệng chửi bới cộng sản không biết ngượng. Người đại diện cảnh sát nói :

– Chúng tôi biết các anh gặp nhiều khó khăn. Nhưng xin các anh thông cảm những nỗi khó khăn của chúng tôi. Mấy tháng nay, mỗi ngày năm, sáu trăm người đổ bộ lên bờ biển của chúng tôi mà các nước giàu có thì chưa sẵn sàng đón nhận hết. Chúng tôi đang sống trong thiếu thốn vật chất và lo sợ hiểm nguy cộng sản thừa cơ xâm nhập người vào để phá hoại.

Chúng tôi biết xua đuổi người tìm tự do là một hành động dã man. Nhưng nếu chúng tôi không làm thì không đánh động được lương tâm nhân loại và sẽ không có một cố gắng qui mô quốc tế nào để giải quyết vấn đề.

Chính quyền cộng sản các anh cho người ra đi bừa bãi để thu vàng và dồn khó khăn lên đầu chúng tôi. Các anh không may ra đi đúng vào lúc chính quyền chúng tôi có những biện pháp mạnh. Nếu các anh tới đây trước một ngày thì đã được nhận rồi.

Chúng tôi chỉ biết thi hành lệnh. Trong khi chờ đợi chúng tôi sửa lại máy, cung cấp dầu, lương thực thì các anh phải ở lại trên bãi này. Không ai được phép ra khỏi vòng rào. Nếu trái lệnh bị bắn chết ráng chịu. Chúng tôi sẽ cung cấp một số lều để các anh dựng tạm tránh nắng.

Cả bọn đuối lý nên đành làm thinh. Các bà khi nghe được tin thì khóc lóc, lạy lục, van xin bọn cảnh sát nhưng họ vẫn làm ngơ.

Để tránh cái nắng oi bức, mọi gia đình bắt buộc phải dựng lều. Trong hai ngày, đồng bào chỉ được tiếp tế nước mà không có thức ăn. Nhiều trẻ em lên kinh vì đói và say nắng. Phát chỉ biết lo lắng canh gác thật kỹ mấy đứa con và làm ngơ trước các công tác cấp cứu. Du phải một mình tận tâm cứu chữa. May mắn không ai bị chết.

Khi ghe đã sửa xong, cảnh sát ra lệnh mọi người xuống ghe. Không ai tuân lệnh mặc dầu cảnh sát nổ súng chỉ thiên thị oai. Sau vài lần thương thảo thất bại, cảnh sát xúi đồng bào địa phương bao vây và liệng gạch đá vào thuyền nhân.

Du không ngờ gặp cảnh khốn cùng đến thế! Cả cộng sản và tư bản đều xua đuổi thì đoàn người này sẽ đi về đâu? Nhiều người bị sưng đầu, chảy máu, la khóc om sòm. Trông họ còn thua những con vật nữa.

Ban tổ chức thấy cảnh dã man quá nên đồng ý xuống ghe.

Cảnh sát đã dùng tàu tuần kéo ghe ra khơi. Mỗi lần họ rồ máy tăng thêm tốc độ thì chiếc ghe chồm lên. Những chỗ ván đóng không được chặt kêu kẻo kẹt làm cho ai nấy hoảng hốt, sợ chiếc ghe không chịu được sức kéo mà vở vụn ra.

Du và các thanh niên, thiếu nữ còn khỏe chạy lên mũi ghe, dùng búa chặt đứt dây kéo. Bọn cảnh sát bắn súng chỉ thiên hăm dọa, nhưng họ không sợ. Dây kéo bằng nylông nên sau nhiều cố gắng, họ chặt được. Nhiều thiếu nữ trông vóc dáng ẻo lả thế mà khi gặp nguy nan, họ mạnh mẽ, hiên ngang không thua gì đàn ông.

Khi dây nhựa bị cắt đứt thì cảnh sát dùng dây cáp bằng thép cột ghe. Lần này thì họ kéo từ từ nên không ai phản đối. Khi ghe đã ra khơi, họ tháo dây cáp và chỉ ghe chạy về hướng Nam Dương. Khi còn ở Việt Nam, họ từng nghe đài B.B.C cho biết nhiều ghe tuy gặp khó khăn, nhưng cuối cùng cũng lên được bờ. Vì thế mọi người trong ban tổ chức đồng ý bằng mọi giá phải cặp được vào bờ Mã Lai vì đi Nam Dương thì quá xa. Chỉ có mình Du chấp nhận đi Nam Dương. Du đành phải theo lệnh đa số.

Ghe chạy về hướng Nam cho đến khuya thì quay hướng vào bờ. Gần sáng thì thấy nhiều tàu hải quan và cảnh sát chận lại buộc phải quay hướng ra khơi. Nhưng tài công được lệnh cứ chạy thẳng vào bờ. Thấy thuyền nhân quá liều mạng, cảnh sát sợ sẽ đâm đầu vào các tảng đá ngầm dưới biển hay lưới của dân chài, nên đành phải dẫn đường cho ghe vào bến. Thuyền nhân hoan hô ầm ỉ.

Ghe cặp vào một làng đánh cá và được dân chúng địa phương tiếp đón niềm nỡ. Họ cung cấp thức ăn và nước uống đầy đủ với nụ cười rạng rỡ trên môi. Cảnh sát và quân đội cũng tươi cười đón tiếp chứ không dữ tợn như lần trước. Ai nấy đều vui vẻ, phấn khởi chắc chắn phen này sẽ được đón nhận.

Ngày hôm sau quân đội chở lều đến dựng cho thuyền nhân có nơi cư ngụ dưới rừng dừa mát mẻ. Họ phát khẩu phần quân đội cho mọi gia đình.

Ban tổ chức hội ý đồng lòng phá tan chiếc ghe trước sự phản đối mạnh mẽ của Du. Du cho rằng trong bất cứ trường hợp nào chiếc ghe cũng là dụng cụ chắc chắn giúp thuyền nhân có phương tiện di chuyển.

Khi được lệnh, thanh niên hăng say phá tan chiếc ghe làm củi chụm trước cái nhìn dửng dưng của cảnh sát. Phát viện cớ Du không còn nhiệm vụ vì chiếc ghe đã bị phá rồi nên loại chàng ra khỏi ban tổ chức. Du không ngờ Bảo và ba người Hoa kia đều đồng lòng chấp nhận.

Du biết, nguy hiểm đã qua rồi, Phát sẽ hưởng được nhiều đặc quyền khi đại diện cho thuyền nhân để nói chuyện với chính quyền địa phương hay cao ủy Liên Hiệp Quốc. Họ sẽ đồng lòng với nhau chia chát quyền lợi mà không bị Du phản đối. Khi hiểm nguy thì không thấy Phát đâu. Khi được chia chát quyền lợi thì chỗ nào cũng thấy Phát đứng đầu.

Tối hôm sau ngày lên đất liền, Du đang vui đùa với Minh và các con trong lều của mình thì Bảo hấp tấp chạy vào nói:

– Mày hãy đến cứu Hà. Nàng đang bị thằng Phát hành hạ một cách dã man mà không ai can nổi.

Từ lúc ở lưu xá Phục Hưng, Du đã biết Bảo chỉ hung hăng cái miệng chứ nhát vô cùng. Du lập tức đến lều của Phát thì thấy anh ta đang cầm một con dao trong tay đứng chắn ngang cửa. Cha mẹ, anh em, chú thím Hà và những người chung quanh đứng nhìn, không dám vào.

Du biết Phát rất yêu Hà mà không được nàng đáp ứng. Nàng sống chung với Phát là để làm tròn chữ hiếu đối với cha mẹ. Trước đây thì nàng yêu Du tha thiết. Nhưng thời gian xa cách quá dài mà Bảo luôn ở bên cạnh săn sóc, yêu thương, an ủi nên nàng cảm động đáp ứng lại mối tình say mê của Bảo.

Trong những tháng tổ chức vượt biên, Phát đã làm thinh cho Hà tiếp xúc thường xuyên với Bảo để khuyến khích Bảo chu toàn hoàn hão công tác. Bảo cũng cho Du biết Hà quyết định ly dị Phát khi họ đã đặt chân lên đất Mỹ và làm đám cưới với chàng.

Từ yêu mà cưới phải một người vợ mất trinh lại ngoại tình nên Phát đâm ra thù hận Hà. Trước đây, gia đình Hà quá giàu nên Phát không muốn gây bất hòa để dễ bề bòn rút tiền của cha mẹ nàng.

Khi cộng sản chiếm miền Nam, Hà có một lá bùa hộ mạng là chú Sáu Lộc, một ủy viên trung ương đảng, tay chân thân tín của bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn nên Phát không dám gây thù chuốc oán.

Bây giờ, Phát thấy tương lai rực rỡ sắp xuất hiện. Chàng đã mang theo một số vàng và đôla lớn nên sẽ có cuộc sống huy hoàng trên đất Mỹ. Chàng sẽ trở lại nghề bác sĩ và kiếm tiền nhiều. Chàng sẽ tìm được một người vợ trẻ đẹp hơn Hà. Nếu không hành hạ Hà ngay từ bây giờ thì không bao giờ có dịp.

Ở Mỹ nếu đánh đập đàn bà thì phải vào tù. Ở xứ Mã Lai theo đạo Hồi này đàn ông có quyền đánh đập vợ mà chính quyền không can thiệp.

Nếu để đến trại tị nạn mới ra tay sẽ bị uỷ ban điều hành trại can thiệp. Cao ủy Liên Hiệp Quốc biết sẽ làm khó dễ cho việc định cư. Chính vì thế mà Phát đã ra tay ngay bây giờ để trả mối hận tình phải chịu đựng trong những năm qua.

Phát chờ cho các con ra ngoài chơi thì trói Hà lại, nhắt giẻ vào mồm và đánh đập tàn nhẫn không chút xót thương. Có lẽ Phát đã được thừa kế cái máu dã man của cha chàng một cách trọn vẹn. Một đứa con của Phát thình lình trở về nhà nên bắt gặp, vội chạy đi báo tin cho ông bà ngoại.

Khi mọi người kéo đến thì Phát đã cầm con dao đứng trước lều và cho biết người nào dám vào can thiệp thì sẽ bị chém chết. Mọi người đều sợ chết nên đưa mắt đứng nhìn. Các giới chức thẩm quyền Mã Lai cũng làm ngơ vì cho đó là quyền của người đàn ông chủ gia đình.

Du bước đến gần thì Phát đưa dao chém. Đối với trình độ võ nghệ sẵn có, Du chỉ xem như một trò đùa. Du lách mình né tránh, thuận chân đá mạnh vào hạ bộ của Phát và dùng tay đẩy thì Phát té chỏng gọng, ôm hạ bộ rên la. Mọi người cùng chạy đến chụp lấy con dao và dùng dây trói Phát lại.

Du vào lều thấy Hà bị đánh rất nặng. Máu chảy thấm ướt cả quần áo và tóc. Mặt sưng vù vì những cái tát rất mạnh. Bảo chạy đến mở trói, ôm lấy Hà mà nước mắt lưng tròng. Cha mẹ và anh em Hà cũng chạy đến vây quanh hỏi han. Hà nhăn nhó vì đau đớn, hai tay ôm lấy cái chân, nước mắt đầm đìa mà không nói được lời nào. Bảo đưa lưng cỏng Hà về lều của cha mẹ nàng vì Hà không đi được. Trong khi đó thì Phát la lối, chửi mắng om sòm.

Mọi người ra ngoài để cho Du khám, rửa và cầm máu các vết thương cho Hà. Khi khám cái chân đau, Du biết mấu chuyển lớn của xương đùi đã bị đánh gãy. Như vậy là Hà bắt buộc phải vào nhà thương giải phẫu. Du cho Hà biết thì nàng khóc dài bảo:

– Sao số em rủi ro đến thế! Vào nhà thương thì làm sao gặp lại gia đình? Em cũng tưởng đến được đất tự do rồi thì sẽ có cuộc đời khá hơn, không ngờ Phát đã trút hết căm hờn trên em. Mặt em có trở lại như xưa không? Nếu bị thẹo làm sao em sống hết quãng đời còn lại? Chân em đau lắm. Sau khi giải phẫu em có bị tật không?

Du trấn an:

– Nhờ loại thuốc làm tan máu bầm nên ngày mai mặt em sẽ hết bị sưng. Phải một tuần sau thì da mới trở lại tình trạng cũ. Còn cái chân phải bị bó bột một thời gian rồi sẽ đi lại bình thường. Đây là một loại gãy xương thường xảy ra cho đàn bà lớn tuổi. Nếu giải phẫu mau chóng em sẽ được trở về gặp gia đình trước khi di chuyển đến trại tị nạn. Anh xin lỗi đã đem đau khổ đến cho em.

Hà nắm chặt tay Du, tha thiết bảo:

– Anh không có lỗi gì cả. Tất cả là do em. Vì em mà anh bị đọa đày bao nhiêu năm qua. Em mới là kẻ có lỗi. Nếu không vì em thì cha con Phát không hận thù anh đến thế và gia đình anh đã ở Mỹ từ lâu. Em xin cảm ơn anh đã không hề oán trách cha mẹ, chú thím và ngay cả Phát. Đời này chắc em không có cơ hội đền đáp ơn anh. Em mong kiếp sau sẽ báo đáp.

– Em đừng thắc mắc về những chuyện nhỏ nhặt ấy. Điều không may đã xảy ra rồi. Hãy can đảm chấp nhận. Em hãy nằm yên cho khỏi bị đau. Anh sẽ ra gặp Phát để nói cho anh ta biết tình trạng của em. Ngày mai, em có thể đi bệnh viện một mình hay cần người đi kèm? Phát thì chắc chắn không bỏ đàn con bơ vơ. Bảo rất muốn gần em nhưng sợ Phát. Nếu em muốn đi cùng Bảo thì ngày mai khi gặp cảnh sát phải làm bộ không nói được tiếng Anh, anh sẽ sắp xếp cho hai người đi chung.

Hà cầm lấy tay Du, cảm động nói:

– Cám ơn anh. Anh tế nhị và chu đáo lắm. Em vẫn yêu anh mãi mãi. Nhưng em cũng cần tình yêu và sự chăm sóc của Bảo để vượt qua những khó khăn gặp phải. Em sẽ vâng theo sự sắp đặt của anh.

Sau một lúc la lối, Phát thấm mệt và bình tĩnh trở lại khi hận thù ấp ủ bao nhiêu năm qua đã được trả. Phát biết không làm gì được Du nên mỉm cười bảo:

– Anh hãy cởi trói cho tôi. Cơn giận đã qua rồi. Tôi đang hối hận vì những việc vừa qua.

Du cởi trói cho Phát và bảo:

– Anh ra tay hơi nặng. Hà đã bị gãy mấu chuyển lớn xương đùi. Bây giờ không có cảnh sát để xin phương tiện đi nhà thương. Phải chờ đến sáng mai rồi mới tính. Nếu gia đình Hà làm lớn chuyện này trong trại tị nạn, anh khó có cơ hội định cư.

Hoảng hốt khi nghe Du nói, Phát lắp bắp:

– Bây giờ phải giải quyết làm sao? Tôi và nàng cãi nhau. Nàng sĩ nhục tôi thậm tệ làm tôi giận lên mất khôn. Anh có thể dàn xếp cho gia đình Hà bỏ qua chuyện này giúp tôi không? Lâu nay tôi đã làm nhiều điều không phải đối với anh. Xin anh đại lượng tha thứ cho. Tôi xin hứa từ nay về sau sẽ sống xứng đáng với lòng tốt của anh.

Du nắm tay Phát bảo:

– Tôi không bao giờ oán giận anh. Nhờ những thù hận của cha con anh đổ lên đầu mà tôi biết tìm đường về với Chúa và hiểu rõ được ý nghĩa của cuộc sống tạm bợ này. Tôi mang ơn anh nhiều và sẽ cố gắng dàn xếp tốt đẹp việc này cho anh. Việc hành hạ Hà vừa qua biết đâu là cơ may cho nàng? May rủi khó lường trong cuộc đời này nên tôi vui lòng chấp nhận những khó khăn gặp phải và cố gắng tìm mọi cách vượt qua với lương tâm bằng an.

Phát vui mừng, đưa hai tay ôm Du, nói:

– Bây giờ tôi mới hiểu tại sao anh luôn vui vẻ khi bị đời chà đạp và thoát hiểm dễ dàng. Tim anh không có hận thù nên trí óc anh luôn sáng suốt. Tôi sẽ gắng bắt chước anh để thấy cuộc sống nhẹ nhàng và có ý nghĩa hơn.

Biết Phát đóng kịch để làm vừa lòng chàng, Du bảo:

– Mỗi người đều có số và tính tình khác nhau. Anh bắt chước tôi cũng không được mà tôi bắt chước anh cũng không xong. Anh cứ yên tâm làm theo những gì lương tâm anh thấy là đúng. Khuya rồi anh cho phép tôi về lều để vợ con trông.

Đúng theo sự sắp đặt của Du, Hà được Bảo hộ tống đến bệnh viện trên một xe cứu thương.

Tối hôm sau Du ghé vào lều thăm hai gia đình cha mẹ và chú thiếm Hà. Mọi người có vẻ ngượng khi thấy Du đến thăm. Du chào mọi người rồi nói :

– Cháu đến thăm hai bác về việc của Phát. Hôm qua cháu có nói chuyện với Phát về việc làm sai trái của nó và dọa nếu hai bác tố cáo nó trong trại tị nạn thì nó sẽ khó lòng được định cư. Nó hối hận lắm và nhờ cháu đến xin hai bác bỏ qua cho nó. Vợ chồng sống với nhau cũng có lúc gây gổ. Mọi chuyện nay đã xảy ra rồi. Nếu hai bác không bỏ qua thì cả gia đình Phát sẽ gặp khó khăn. Các cháu ngoại đâu có tội tình gì mà phải liên lụy. Con muốn hai bác hứa một lời để cho Phát bớt lo lắng.

Người anh của Hà tức giận bảo :

– Nó đánh con ngưởi ta trọng thương như thế mà muốn bỏ qua mọi chuyện sao. Nó đã hại gia đình anh đến nông nổi này mà anh còn binh cho nó à? Chúng tôi không tha cho nó đâu.

Thấy con cạn nghĩ, ông Thông can thiệp :

– Cám ơn cháu đã giúp chúng tôi ngày hôm qua. Nếu không có cháu trị được thằng Phát thì giờ này con Hà không biết như thế nào. Bác khâm phục lòng nhân từ của cháu. Nó đã hại cho gia đình cháu đến điêu đứng như thế mà cháu vẫn giúp đỡ nó thì không còn ai tốt hơn. Bác nghe lời cháu không truy tố nó trong trại tỵ nạn. Tiện đây bác cũng nói một lời xin lỗi với cháu về những đối xử bất công của các bác đối với cháu bấy lâu nay.

Anh Hai có viết thư về cho hai bác bảo hãy tìm cháu nói lời xin lỗi, nhưng hai bác nấn ná chờ hoài vì cháu cũng biết người già có tự ái to lắm. Khi mình giàu có thì xem thường những tình cảm của người khác. Khi mình nghèo khó mới thấy quí nhưng lại không có cơ hội. Hôm qua thấy cháu hết lòng lo lắng cho Hà chúng tôi cảm động và nhớ lại chuyện xưa. Đây là một lời xin lỗi muộn màng mong cháu thông cảm.

Thấy ông Thông cảm động đến chảy nước mắt khi nói câu trên, Du thấy được an ủi vô cùng. Du bảo :

– Cháu không còn nhớ những việc quá khứ. Thấy hai gia đình bác trốn khỏi được thiên đàng cộng sản thì cháu đã vui rồi. Hai bác đừng áy náy gì về chuyện cũ. Được bác Thông hứa cho một lời thì cháu yên tâm. Thôi cháu về báo cho Phát mừng.

Du mừng thầm trong bụng là các em mình chưa cho họ biết sự thật. Du định ra về thì ông Phú giữ lại bảo :

– Ba đứa con của bà Nhịn mà cháu đoan quyết với chúng tôi là con chú Lộc đã vượt biên thành công và nay đang sống sung sướng trên đất Mỹ. Chúng đã mang theo hết tiền bạc mà chúng tôi gởi cho chú sáu Lộc giữ.

Chúng vừa gởi thư về cho biết trước khi Sàigòn bị chiếm chúng đã được cháu cho biết với các bằng chứng hiển nhiên chúng không phải là con chú Lộc mà là anh em ruột với cháu. Chúng tỏ ra thù hận vì những đối xử bất công của chúng tôi với chúng khi còn nhỏ.

Chú Lộc hay tin này đã nổi cơn điên và đã được đảng cho vào nhà thương tâm thần điều trị. Không biết chú ấy có thể lành lại được không khi bị gạt một cú nặng trong suốt mấy chục năm qua. Chúng tôi hiện nay không còn trong tay một đồng xu nào.

Tại sao cháu lại nở hại chúng tôi như thế? Nếu sau này chúng tôi đến được Mỹ thì cháu có thể can thiệp với các con bà Nhịn trả lại tiền bạc cho chúng tôi sống không? Mong cháu nghĩ tình chúng tôi cưu mang chúng trong bao nhiêu năm qua mà bảo chúng trả lại tài sản cho chúng tôi.

Cái dại của chúng tôi là luôn xem thường cháu vì cho rằng cháu quá thiệt thà trong mọi công việc. Không ngờ chúng tôi đã bị cháu chơi cho một vố sát ván. Bây giờ chúng tôi sáng mắt ra thì đã muộn.

Du không ngờ hai anh em ông Thông sắp đặt trước mọi chuyện. Ông anh nâng thì ông em đấm. Nhìn các cặp mắt căm hờn của con cái họ, lần đầu tiên, Du mới thấy anh em ông Thông tự nhận mình dại và nhún mình. Du giật mình khi thấy các em còn quá dại đã nói ra hết những bí mật làm cho Du bối rối. Du bào chữa :

– Xin các bác tha thứ cho cháu đã dối gạt các bác về chuyện ba chị em Đào. Nhưng lúc ấy nếu cháu không nói dối thì làm sao các bác chịu nhận cho chúng đi theo về thành và nuôi chúng nên người. Bù lại cháu cũng đã hết lòng lo lắng cho gia đình các bác về thành trong lúc sắp chết đói. Sư giàu sang của các bác trong mấy mươi năm qua cũng đủ để chuộc lại sự nói dối của cháu. Các bác hãy yên tâm. Các bác sẽ không mất đồng xu nào. Khi nào được định cư tại Mỹ con sẽ bảo các em trả lại tài sản cho các bác. Con đã dặn kỹ các em là phải nhớ ơn dưỡng dục của các bác trong bao nhiêu năm qua.

Ông Thông vui mừng cầm tay Du nói :

– Được cháu hứa một lời là chúng tôi yên tâm.

Hôm sau, một chiếc tàu kéo của cảnh sát đưa ba chiếc ghe cập bến. Người chỉ huy báo cho ban tổ chức biết là thuyền nhân sẽ lên ba chiếc ghe để được đưa đến trại tị nạn.

Khi hay tin, đồng bào ùa nhau chen chúc lên hai chiếc ghe lớn có vẻ cứng cáp, rộng rãi. Người Hoa chỉ thích ăn. Trong những ngày qua họ đã dùng vàng đổi thực phẩm như thịt, cá, rau của dân chúng địa phương để ăn uống sung sướng. Họ xả rác bừa bãi chung quanh các lều.

Du và một số người có thiện chí đã phải thu dọn hằng ngày nhưng vẫn không sạch. Bây giờ nghe được lệnh lên ghe thì họ bỏ lại tất cả mà giành giựt nhau kiếm chỗ tốt cho gia đình mình. Người cảnh sát điều khiển đoàn ghe kéo Du ra một chỗ vắng và bảo :

– Anh hãy khuyến khích những người có thiện chí dọn sạch tất cả rác rưới đồng bào bỏ lại để khỏi làm mất thể diện dân tộc anh. Chúng tôi sẽ dành cho các anh một phần thưởng thích thú.

Được khuyến khích, Du hăng hái đốc thúc mọi người có thiện chí làm việc hăng say. Cảnh sát đứng nhìn với cặp mắt đầy thiện cảm và chờ đợi cho Du hoàn thành nhiệm vụ.

Minh cũng háo hức lên ghe sớm nhưng đành phải nghe lời Du cùng với các con quét dọn. Khi công tác hoàn tất thì số người còn lại cùng năm gia đình có con nhỏ và người già yếu lên chiếc ghe nhỏ và mỏng manh nhất. Du cùng với năm thanh niên đưa lên ghe số đồ hộp bị đồng bào bỏ lại cùng hai bao gạo và hai thùng phuy nước. Mọi người trên hai chiếc ghe kia cười cho sự tham lam của Du.

Trên ghe Du bây giờ chỉ có bốn mươi hai người nên rộng rãi và thoải mái. Số người mạnh khỏe đã được phân chia trên hai chiếc ghe tốt.

Du gõ vào mọi chỗ trên thân ghe để biết tình trạng. Nhờ lúc coi đóng ghe vượt biên với Cho mà Du được thợ dạy làm sao biêt được gỗ còn tốt. Du bằng lòng khi thấy tuy bề ngoài chiếc ghe có vẻ xấu xí nhưng bên trong thì chắc chắn. Trước cái nhìn lo sợ và buồn rầu của mọi người trên ghe, Du trấn an:

– Chiếc ghe tuy xấu nhưng cách kiến trúc và gỗ còn tốt. Đồng bào hãy cứ an tâm, đừng lo sợ gì.

Nghe Du nói thế, mọi người an tâm và vui vẻ trở lại. Tàu kéo chạy từ từ nên mọi người đều hoan hỉ. Bốn giờ sau, khi ghe đã ra đến biển khơi có nhiều thương thuyền quốc tế chạy qua thì tàu kéo gia tăng nhanh chóng tốc độ. Trên hai ghe lớn, đồng bào nhốn nháo hẳn lên khi nghe những tiếng răng rắc của gỗ gãy. Trong khi ghe của Du vì chở ít người nên không bị hề hấn gì.

Mười lăm phút sau, chiếc ghe chở ban tổ chức và gia đình trong đó có Phát bung mũi. Nước ào vào. Tàu kéo vẫn giữ nguyên tốc độ trước các máy quay phim của thủy thủ trên các tàu buôn. Cuối cùng, chiếc ghe của Phát hoàn toàn bung mũi, rời khỏi tàu kéo và chìm dần xuống biển sâu.

Mọi người trên hai ghe còn lại khóc lóc thảm thiết khi thấy nạn nhân vẫy vùng tuyệt vọng trong sóng nước đại dương. Các thương thuyền vẫn tảng lờ chạy theo lộ trình mà không có hành động cứu giúp nào vì họ sợ làm phật lòng chính phủ Mã Lai.

Du thấy Phát và các con dơ cao trên đầu các áo phao thì biết chắc đó chỉ là một loại áo phao giả, không xử dụng được trong trường hợp nguy khốn này. Đến lúc này mà chúng vẫn giữ của cải thì tội nghiệp quá!

Hình ảnh cuối cùng Du chứng kiến là thấy Phát ôm lấy các con và chìm dần vào lòng biển. Những chiếc áo phao chứa đầy vàng cũng chìm theo.

Thế là cả một đời Phát mưu toan hảm hại người khác, bòn mót của cải, lợi dụng chức quyền để tham ô, móc ngoặc, sống phè phỡn trên sự khốn cùng của đồng bào đã bị mất sạch ngay cả tính mạng trong mười lăm phút hấp hối phù du. Đã vậy còn kéo theo những cái chết bi thảm của đàn con vô tội. Gia đình cha mẹ và chú thím Hà cũng không ra khỏi sự trừng phạt của Thượng Đế khi đã gieo quá nhiều nhân xấu.

Chiếc ghe của Du vẫn chạy theo tốc độ cao của tàu kéo mà không có dấu hiệu gì bị vở nát. Toán người bị đắm lần lượt chìm dần và cuối cùng mặt biển trở lại xanh biếc, gợn sóng nhấp nhô dưới ánh sáng mặt trời chói lọi. Minh run sợ ôm chặt các con và nắm tay Du để tìm điểm tựa. Du an ủi:

– Em đừng lo sợ nữa. Anh có linh cảm chúng mình sẽ vượt qua cái chết, nhưng không biết tương lai sẽ trôi dạt về đâu? Em và các con hãy trao phó vận mạng vào tay Chúa. Chúa sẽ lo liệu cho chúng ta.

Nửa giờ sau thì chiếc ghe thứ hai cũng chịu cùng số phận. Sự hoảng sợ đã đến cùng cực nên mọi người chỉ im lặng, mở to đôi mắt nhìn bạn bè đang vẫy vùng tuyệt vọng trong làn nước xanh biếc của biển khơi trước cái nhìn thản nhiên của những người trên tàu kéo.

Sau đó thì tàu kéo lấy lại tốc độ bình thường. Mọi người trên ghe đều vui mừng, tuy không biết tương lai sẽ đi về đâu. Hiện tại họ chỉ biết còn sống sót là được. Tuy khi ra đi, ai cũng hùng hổ cho rằng chẳng thà chết trên biển đông còn hơn sống lây lất trong chế độ cộng sản. Nhưng khi va chạm thực tế và tận mắt nhìn thấy bạn bè ra đi một cách bi thảm, ai nấy đều cầu mong được sống sót trở về đất liền dẫu đó là Việt Nam đi nữa.

Tàu kéo chạy về hướng bắc đến chiều thì ngừng lại. Du thấy rõ đây chỉ là một vở kịch đã được soạn sẵn do chính phủ Mã Lai đạo diễn. Họ muốn quốc tế thấy được những hình ảnh bi thảm của thuyền nhân bị chết đắm do các thủy thủ trên tàu buôn quay được. Họ chắc chắn các nước tư bản sẽ cấp thời định cư những người đã được nhận lên bờ đang ứ đọng trong các trại tị nạn. Điều rủi là chuyến ra đi của gia đình Du lại là con cờ thí cho những người khác được cứu sống.

May mắn cho chàng là việc dọn sạch rác rưới trên bãi trước khi ra đi đã lấy được cảm tình của cảnh sát trên tàu kéo, nên họ không nở làm cho thuyền của chàng bị đắm. Khi ghe của chàng cặp sát tàu kéo, người chỉ huy bảo chàng:

– Các anh là những người may mắn nhất. Chúng tôi đã thử sức chịu đựng của các ghe trước khi dùng, nên đã biết ghe các anh không bị bung mũi với tốc độ định trước. Đó là phần thưởnng dành cho những người đau yếu và có thiện chí. Ghe có gắn máy yanmar 1 bloc nên có thể chạy với tốc độ 4 hải lý một giờ. Dầu chạy máy đủ dùng trong 5 ngày. Nếu may mắn các anh sẽ về quê cũ trong vài ngày nữa. Nếu rủi mà máy bị hư thì phải cần 1 tháng mới về quê cũ được.

Đây là hải phận quốc tế gần bờ biển Việt Nam. Với gió mùa này, nếu máy bị hư thì thuyền trôi theo chiều gió và sẽ đưa các anh trở về quê cũ. Chúng tôi rất có cảm tình với những người đầy thiện chí như các anh, nhưng không thể trái lệnh trên, đành phải dùng biện pháp này để cứu các anh.

Chúng tôi sẽ cung cấp cho các anh vài tấm bạc che nắng để các cháu nhỏ có thể sống sót trong những ngày lênh đênh sắp tới, một số lưỡi câu và cá khô làm mồi để kiếm thêm cái ăn khi lương thực đã cạn, một thùng dầu hỏa và một bếp để nấu ăn. Cầu chúc các anh gặp nhiều may mắn.

Nói xong, ông ta ra lệnh cho thuộc hạ đưa xuống thuyền vật dụng đã hứa. Họ chỉ cách xử dụng và quay cho máy nổ. Du vui mừng và cảm ơn thì tàu kéo đã rồ máy chạy thẳng.

Bây giờ những người trên ghe mới thấy những ý kiến của Du từ việc không phá máy đến việc muốn chạy thẳng đến Nam Dương khi được cung cấp đầy đủ lương thực, dầu và chống lại phá hủy chiếc ghe là hoàn toàn đúng. Rủi thay ý kiến của chàng không được ban tổ chức chấp nhận và đồng bào ủng hộ. Thấy mọi người nhìn mình với cặp mắt đầy vẻ biết ơn và sẵn sàng vâng lệnh, Du nói:

– Chúng ta là những người may mắn nhất trong chiếc ghe ra đi. Chúng ta không muốn chết trên biển thì phải chọn trở về Việt Nam. Trong những ngày sắp tới nếu mọi người đều nghe theo lời chỉ dẫn của tôi thì sẽ tránh được tình trạng chết đói, chết khát, bệnh hoạn trên biển.

Tôi đã từng có kinh nghiệm sống trên một chiếc ghe trôi dạt trên biển từ Bình Tuy vào Cà Mau gần một tháng trời nên dám đoan quyết với quí vị là sẽ lo được cho mọi người tai qua nạn khỏi. Tôi biết hiện nay ý muốn tha thiết nhất của quí vị là sống sót trở về quê hương, tôi tình nguyện làm người hướng dẫn. Nếu mọi người đồng ý thì hãy giơ tay lên. Nếu ai thấy mình có đủ khả năng đem lại an toàn cho mọi người thì tôi hoàn toàn ủng hộ. Cũng may là hai cha con tôi đã từng biết lái ghe nên quí vị an tâm

Mọi người đều đồng lòng giơ tay. Du trình bày:

– Gạo, đồ hộp, nước chỉ đủ cho chúng ta dùng thoải mái trong bảy ngày. Nếu máy bị hư thì với sức mạnh của gió hiện nay, chúng ta phải cần một tháng mới đến được bờ biển Việt Nam. Vậy, tôi chia đều lương thực và nước uống ra cho đủ hai mươi ngày cho từng đầu người. Việc phân chia phải thật công bằng để khỏi gây xáo trộn. Chúng ta hãy để dành sức chống chỏi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên hơn là giành dựt nhau từng miếng ăn, nước uống.

Chúng ta phải tìm mọi cách quên đi cái đói, cái khát đang dày vò thì mới mong giữ được tinh thần khỏi bị điên loạn. Muốn đạt được mục tiêu ấy, chúng ta đừng bao giờ nhắc lại cuộc sống quá khứ, phải tập hít thở để thu lấy năng lượng thiên nhiên, bồi dưỡng cho sức khỏe. Tôi sẽ dạy bài học hít thở vào ngày mai. Những người có đạo hãy cầu xin Thượng Đế một cách sốt sắng thì sẽ quên đi được cơn đói khát đang hành hạ.

Đàn ông và thanh niên hãy giúp tôi che hai tấm bạc để tránh nắng mưa. Còn tấm thứ ba, chúng ta dùng làm buồm nếu máy bị hư cho ghe chạy nhanh hơn một chút. Mùa này biển không có sóng lớn, nên quí vị không bị mữa. Nhưng đôi khi gặp cơn giông thì biển cũng động mạnh. Lúc ấy mọi người hãy nằm yên ở đáy cho ghe khỏi bị lật. Nếu có bị ói mữa thì ráng chịu. Cơn giông sẽ qua mau và trời yên biển lặng sau đó. Hãy móc cá khô vào lưỡi câu và thả xuống biển bắt cá.

Mọi người tin tưởng vào Du nên tuân hành triệt để những điều chàng nêu ra. Bữa ăn đầu tiên gồm một lát thịt hộp, một nắm cơm và một ly nước. Mọi người đều tập trung trên sàn ghe để hưởng không khí mát mẻ khi mặt trời sắp lặn. Minh cầm lấy tay Du nói:

– Em xin lỗi anh. Anh đã quyết tâm tự mình làm ghe, nhưng vì nể lời em, anh đã chấp nhận ra đi. Em cũng không ngờ số phận chúng mình lại long đong thế! Nếu chúng ta ra đi trước vài ngày thì đâu có bị rủi ro đến thế!

Du chỉ biết an ủi:

– Chúa muốn thử thách chúng ta thì dẫu làm gì cũng không tránh khỏi. Em hãy an tâm lo lắng cho các con. Nếu trở về lại được Việt Nam, chúng ta hãy tính con đường khác. Em hãy để cho tâm hồn thanh thản mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên khi hoàng hôn xuống trên biển cả mênh mông và cám ơn Chúa đã cho chúng ta qua được một ngày gian khổ. Em hãy ca ngợi sự mầu nhiệm của Chúa khi ngước mắt nhìn bầu trời đầy sao lấp lánh. Em sẽ thấy tâm hồn tràn ngập nguồn an bình mà chưa bao giờ em đã sống qua.

Tất cả được sắp đặt nằm ngủ trên sàn ghe và dùng hai tấm bạt phủ lên cho khỏi lạnh. Những người nào không chịu được lạnh thì chui xuống hầm. Đàn ông và thanh niên được chia nhau phụ cha con Du lái ghe. Một đêm an bình trôi qua. Ngày hôm sau ghe chỉ chạy được vài giờ thì chết máy. Không có dụng cụ để sửa nên ghe trôi theo chiều gió. Du đành chỉ cho các thanh niên làm bườm và dạy họ xử dụng. Biết thời gian trở về quê cũ sẽ rất lâu nên Du tập cho mọi người cách hít thở để giữ được tinh thần và sức khỏe vững mạnh. Mọi người đều tin theo chỉ trừ năm thanh niên không tin. Họ tụ tập nhau sau lái, kể cho nhau nghe những cuộc sống vương giả và những bữa cơm thịnh soạn khi xưa. Càng kể, họ càng thấy cái đói hành hạ.

Đến ngày thứ tư thì có một thanh niên không chịu nổi cái đói, nằm bẹp dưới hầm. Trong khi ấy các bà và trẻ con tập hít thở đều đặn thì chưa bị hao tổn gì. Bốn thanh niên còn lại mới tin và bắt đầu tập thở và thấy tinh thần cũng như sức khỏe trở lại bình thường. Họ khuyến khích người bạn mất tinh thần ngồi dậy lên sàn ghe tập thở và hai ngày sau anh ta đã khỏe trở lại.

Ngày thứ sáu có một cơn giông dữ dội kéo đến. Bườm được tháo ra. Mọi người xuống hầm núp chỉ trừ Du và người cầm lái ở lại trên sàn. Những cơn sóng bạc đầu đẩy ghe lên cao và nhận chìm xuống đáy. Nước tràn vào ghe nhưng vì sàn ghe kín nên lại chảy ra ngoài. Du phải phụ với người cầm lái cho ghe khỏi bị sóng đánh ngang mà vở làm đôi. Một cơn mưa như trút đổ xuống. Các thanh niên được huy động hứng lấy nước mưa. Nhờ phép thở mà ít người bị mữa vì say sóng. Cơn mưa kéo dài hai giờ thì ngưng.

Các thanh niên vui mừng khi thấy không bị mữa mặc dầu bị sóng dồi một cách khủng khiếp. Họ đã hứng được ba thùng phuy nước đầy trở lại. Các trẻ con được Du xoa bóp các huyệt đạo trước và sau cơn giông nên tuy bị mữa cũng không mất sức nhiều. Chúng được cho ăn uống đầy đủ thì khỏe lại ngay.

Cứ vài ngày thì có một cơn mưa đổ xuống nên nước không thiếu mà đồ ăn thì cạn dần. Ngày thứ mười mọi người chỉ được ăn cháo. Nhiều người bắt đầu nản vì chưa câu được con cá nào. Ngày hôm sau, mọi người vui mừng khi bắt được hai mươi ba con cá thu lớn. Du bảo:

– Như vậy là chúng ta đã vào vùng có nhiều cá. Chắc chúng ta sẽ gặp các đoàn tàu đánh cá quốc doanh và sẽ được cứu.

Mọi người vui vẻ kho cá. Cứ năm người chia nhau một con. Những ngày kế tiếp cũng câu được một số cá thu tương tự. Tất cả lấy lại sức mạnh và vui vẻ. Họ không ngờ được sống qua những ngày đầy gian nguy nhưng cũng đầy thú vị. Có cái vui nào lớn hơn khi đang đói mà được ăn cá thu thay cơm?

Bây giờ ai nấy hiểu rõ sự quan trọng của hít thở và cầu nguyện. Du vui mừng khi thấy Chúa đã thương chàng quá nhiều khi cho chàng có cơ hội giữ được mạng sống của mọi người trên ghe nhất là gia đình mình.

Trong lúc rảnh rỗi chàng dạy cho các con những bài học thực tế về sự quan trọng của cầu nguyện và hiệp thông với Chúa qua hít thở. Chàng cám ơn Chúa đã cho cơ hội hiếm có dạy các con hiểu được phải sống thế nào để được Chúa thương yêu và giúp đỡ.

Ngày thứ hai mươi thì gặp đoàn tàu đánh cá của tỉnh Tiền Giang trên đường về bến. Đồng bào vui mừng khôn xiết khi được nhận lên tàu. Lại một màn lục soát tỉ mỉ để tịch thu hết vàng bạc của đồng bào. Sau đó một đại diện người Hoa phải ký tên vào biên bản là vàng bạc đã bị công an Mã Lai cướp hết.

Mọi người năn nỉ trưởng đoàn đánh cá đừng giao họ cho công an, nhưng không được nhận lời. Nhìn các cặp mắt đầy căm hờn của những người trong đoàn đánh cá, Du biết họ ganh ghét với những người giàu bỏ nước ra đi. Du cũng tưởng sẽ lợi dụng đêm tối khi tàu vào sông Tiền sẽ nhảy xuống lội vào bờ trốn để khỏi bị tù. Nhưng khi tàu vừa vào cửa biển tất cả những đàn ông mà họ nghi ngờ có khả năng trốn thoát đều bị trói lại hết. Du dặn Minh:

– Nếu được thả ra cùng các con thì hãy trở về hộ khẩu người Hoa ở Chợ lớn, đừng trở về địa chỉ cũ mà bị rắc rối. Đưa Tuấn về La Ngà ở với anh Ba. Đừng lo lắng thăm nuôi mà mệt sức và tốn kém. Anh tự mình có thể xoay xở được. Em phải nghe theo tất cả những gì anh dặn dò thì anh mới yên tâm làm những việc khác được. Anh đã gởi cho mẹ giữ hộ hai chục lượng vàng. Em lên xin mẹ nửa số để có tiền buôn bán nuôi các con.

Minh chỉ biết gật đầu đồng ý mà nước mắt chảy ròng.

Khi được giao cho công an Tiền Giang, một đại diện người Hoa trình bày hết diễn tiến công việc và đề nghị:

– Chúng tôi đã đóng tiền cho chính phủ ra đi chính thức. Bây giờ xin chính phủ cho chúng tôi đặc ân ra đi một lần nữa.

Trưởng ty công an cười bảo:

– Các anh đóng tiền cho tỉnh Kiên Giang chứ đâu có đóng cho chúng tôi. Trước mắt, chúng tôi chỉ biết các anh là những người nhập biên bất hợp pháp. Chúng tôi thông cảm cho tình trạng bi đát của các anh nên chỉ giam lại một số người nguy hiểm có thể làm tay sai cho đế quốc trở về phá hoại an ninh xã hội. Còn đàn bà và trẻ con sẽ được thả ngay.

Thấy vẻ mặt vui sướng, hả hê của bọn công an, Du thất vọng hoàn toàn. Sự thực đã rõ ràng như thế mà họ vẫn ghen ghét, hận thù để có cớ hành hạ những người trước đây đã có một cuộc sống sung sướng hơn họ. Tuy thế, Du cũng vui mừng khi biết vợ con không bị giam giữ. Các người Hoa năn nỉ đủ điều mà cũng không thay đổi được ý định của công an. Du và tám người Hoa được đưa vào khám đường chính để chờ ngày đưa qua trại chấp pháp điều tra.

Vào tù lần hai.

Khi bước vào phòng giam, Du tưởng minh vừa rơi vào địa ngục. Phòng rộng khoảng 8m dài 30m chứa 400 người, có một cửa lớn luôn đóng kín, chỉ mở ra mười lăm phút, ba lần trong ngày. Một cửa sổ nhỏ cuối phòng có song sắt kiên cố và lưới gai bao bọc. Nhiệt lượng của 400 người tiết ra trong một căn phòng mái tôn bít kín cộng thêm với sức nóng bên ngoài làm cho không khí ngột ngạt, hôi tanh đến khó thở.

Mọi người đều ở trần. Những người nằm trên đất gần cửa ra vào ốm tong teo, da bọc xương, mắt hỏm sâu, ghẻ chốc đầy người trông thật ghê rợn. Họ được nằm ở đây để hít thở khí trời lọt qua khe cửa lớn.

Thiên đường cộng sản là đây ư? Ông Hồ đã từng tuyên bố không có trại tù chỉ có trường học.

Riêng trường học này gồm 20 phòng, mỗi phòng 400 người. Tổng cộng là 8000 người. Tỉnh Tiền Giang có ít nhất 20 trại giam như thế nghĩa là khoảng 160.000 tù nhân. Cả nước có 24 tỉnh. Số tù nhân khoảng chừng bốn triệu. Một dân số năm mươi triệu có bốn triệu tù nhân là một điều ngoài sức tưởng tượng.

Tám người Hoa kia được phân phối vào các phòng khác nên Du không biết tình trạng của họ như thế nào?

Phòng có hai bệ ximăng dài 30m rộng 2m. Mỗi bệ có 70 người nằm. Như vậy mỗi người có bốn tấc bề ngang, nghĩa là chỉ được nằm nghiêng không đủ chỗ nằm ngữa. Phiá trên hai bệ ximăng là hai dãy sàn gỗ giống như kiểu giường hai tầng và cũng chứa một số người tương tự.

Giữa phòng có hai dãy người nằm đối đầu nhau. Chung qui lại mỗi người chỉ có hai thước chiều dài và bốn tấc chiều ngang vừa nằm vừa để vật dụng. Cuối phòng có hai cầu tiêu công cộng dùng để tiêu, tiểu, rửa mặt, đánh răng.

Người mới vào phải nằm dưới đất sát cầu tiêu. Cả ngày phải ngồi hoặc tìm chỗ khác ngồi vì người vô ra thường xuyên. Tìm chỗ khác ngồi là cả một vấn đề vì không ai cho. Tối đến phải chờ đến 12 giờ khuya khi mọi người bớt vào cầu tiêu vì đã ngủ, Du lấy một cái quần mang theo lau khô các vũng nước tiểu, xong trải tấm nylông lên nằm.

Mùi hôi thúi xông lên nồng nặc. Đây là chỗ cuối phòng nên không khí càng tù túng hơn. Bốn giờ sáng phải thức dậy vì có nhiều người vào cầu tiêu.

Người mới vào chưa có tiêu chuẫn nên Du phải nhịn đói, nhịn khát suốt ngày. Ngày hôm sau trại giam hết bo bo nên không có cơm. Du lại phải nhịn đói thêm hai ngày nữa.

Hôm đó lại là ngày thăm nuôi. Mỗi tháng tù nhân được thăm nuôi hai lần. Sáng sớm phải thức dậy, mặc quần áo sẵn sàng. Khi được kêu tên phải chạy ra ngay. Thân nhân và tù nhân chỉ được trao đổi vài câu qua hàng rào kẻm gai, đưa giỏ rổng để lấy giỏ đầy đồ ăn.

Mọi vật trao đổi giữa thân nhân và tù nhân được công an và ban lao động kiểm soát kỹ. Nếu có gì man trá như dấu thư trong các giỏ thì bị phạt không được thăm nuôi bốn lần sau hay bị giam vào xà lim.

Lao động là những tù nhân bị giam lâu ngày hoặc cán bộ cộng sản bị giam vì tham nhũng. Họ là những tay ăngten chuyên báo cáo cho giám thị trại các hành động và tư tưởng của tù nhân chung quanh.

Ban ngày họ được ra khỏi phòng để nấu cơm. Ban đêm họ trở về phòng sinh hoạt với các tù nhân khác. Bọn lao động này không có tính người nên dục giả, la hét tù nhân không cho họ được nói chuyện lâu với thân nhân, lục soát từ món đồ thân nhân gởi vào để tìm thơ dấu, ăn cắp đồ ăn của tù nhân.

Tù nhân được chia ra nhiều loại. Loại thứ nhất là các cán bộ cộng sản bị bắt vì tham nhũng. Họ được làm các chức vụ như trưởng hoặc phó phòng, thư ký. Họ được ra vào phòng tự do. Ngày thứ bảy và chủ nhật họ được về thăm gia đình. Họ được nhận quà bất cứ lúc nào. Đó là loại tù “cha”.

Loại thứ hai là những người vượt biên. Phần lớn đều giàu nên mỗi lần thăm nuôi được tiếp tế rất nhiều. Họ chỉ biết ăn mà thôi. Họ vượt biên để kiếm một cuộc sống sung sướng hơn. Nếu họ ở lại cũng có cuộc sống sung túc. Cũng có những người như Du vượt biên vì không còn con đường sống nào khác. Họ sống đạm bạc với số đồ ăn hạn chế của gia đình.

Loại thứ ba là các anh hùng phản động ở thôn quê. Trước đây họ là các đồn trưởng địa phương quân hoặc các phú nông đã gây thù chuốc oán với cộng sản nằm vùng. Loại này đã bị công an xã, huyện đánh cho mềm xương rồi mới gởi lên đây. Bây giờ thì họ sợ lắm, không còn khí phách anh hùng nữa. Tuy là những thành phần phản động bị công an nhìn với cặp mắt nghi kỵ, nhưng họ cũng không từ khước báo cáo ngầm với giám thị các hành động của bạn mình để lập công mong ngày về sớm. Họ đâu có biết rằng đối với cộng sản, những người này sẽ bị giam suốt đời, khó có ngày tự do. Họ được gia đình tiếp tế đầy đủ.

Loại thứ tư là những thanh niên, thiếu nữ bị bắt vì tham gia vào các tổ chức hay đảng phái với ý định dùng vũ khi chống lại cộng sản. Một số bị tử hình mà không cần tòa án xét xử. Một số bị biệt giam trong các xà lim. Một số được sống chung trong các phòng, nhưng không được thăm nuôi. Họ sống rất khổ sở vì thiếu ăn. Trại giam chỉ phát mỗi ngày hai nắm bo bo và một lát dưa hay nước muối. Họ ốm tong teo như một bộ xương biết đi và cả người đầy ghẻ. Tuy sống trong thiếu thốn, nhưng họ vẫn giữ được sự can cường, không qụy lụỵ, xin xỏ ai điều gì. Đó là những người mà Du thấy khi vừa bước vào phòng.

Loại thứ năm là những phần tử bất hão, trộm cắp, xì ke, ma túy.

Lao động là những người được phép ra ngoài làm tạp dịch như nấu cơm, dọn dẹp sạch sẽ, hay ra các nông trường của tỉnh trồng cây, làm ruộng cho giai cấp lãnh đạo mới.

Phần lớn những người vượt biên đều lo tiền cho các trưởng phòng để được đề nghị đi lao động vì vừa hít thở không khí trong lành, vừa mua đồ ăn thêm tự do nhờ tiền của gia đình tiếp tế, vừa có chỗ ngủ thoải mái, vừa có dịp hoạt động để thấy thời gian qua mau. Họ đã lấy sức lao động của mình làm giàu cho những đảng viên cao cấp trong tỉnh.

Luật lệ của trại là đồ ăn gởi vào phải thanh toán trong ba ngày. Nếu để lâu sẽ hư và ăn vào sẽ bị bệnh. Tuy thế tù nhân vẫn có cách giữ để ăn dần trong nửa tháng chờ ngày thăm nuôi sau. Bánh mì khô và cơm sấy không được nhận vì đó là lương thực dùng để vượt ngục. Với cách giam này thì chẳng có người nào đủ bản lãnh vượt ngục, nhưng cộng sản là những người đa nghi và tính chắc.

Tù nhân cắt bánh mì tươi thành từng lát mỏng và ban đêm treo lên trần nhà phơi khô để ăn dần. Cơm gói có thể để dành ba ngày mà không hư. Dừa khô để được lâu, nhưng mỗi lần chỉ nhận được một quả. Chuối nhận được bốn nải.

Dân miền Nam thích ăn và nhậu, nên nhịn đói đối với họ là một cực hình. Vì phải ăn đói trong nhiều ngày, nên ngày thăm nuôi họ ăn thả dàng. Cái bao tử không quen với sự thay đổi đột ngột của chế độ ăn uống nên lại thải ra nhanh. Vì thế trong ngày thăm nuôi thì cầu tiêu đông ngặt cả người. Họ đứng chờ cả hàng dài để tới phiên mình. Nhiều người không nhịn được nên đi cầu ngay ngoài đất, chỗ Du nằm. Du lại phải giúp họ dọn dẹp.

Mỗi người được phát một lít nước một ngày dùng cho ăn uống và vệ sinh. Mỗi tuần chỉ được tắm một lần nên nước cũng là một của quí không ai dám phí phạm. Du không có dụng cụ chứa nên không có nước dùng. Vì thế người đi cầu ngay chỗ Du nằm chỉ dùng một chút xíu nước mà thôi, không đủ dọn sạch.

Sống thường xuyên trong đói khổ, mọi người trở nên ích kỷ. Ai có gì thì ráng giữ lấy để ăn, không cho người khác một chút nào. Cộng sản đã khai thác triệt để yếu tố này để giữ được trật tự trong trại giam.

Du thấm thía được thế nào là sự tàn ác khủng khiếp của Lênin khi thắt chặt cái bao tử của toàn dân để dễ bề cai trị.

Du nghĩ đến cuộc sống khổ cực của hàng mấy trăm ngàn sĩ quan, công chức trong các trại cải tạo miền Bắc. Mỗi năm họ chỉ được thăm nuôi một lần. Du xót thương cho dân tộc bị cai trị bởi một tập đoàn mất hết tình người lại quá lưu manh lừa bịp được cả dư luận thế giới.

Những ngày bị giam ở Chí Hoà tuy khổ cực nhưng tâm hồn thảnh thơi khi không thấy cảnh cùng khổ của anh em chung quanh. Bây giờ, tuy chưa bị cực hình, nhưng sống trong đói khổ thường xuyên lại chứng kiến cảnh cùng khốn của mọi người, lòng Du luôn bị xao động, buồn khổ. Du nguyện sẽ gắng giúp họ trong phạm vi khả năng của mình để giảm bớt nỗi bi thương mà họ phải gánh chịu.

Tối hôm đó, nhiều người đau bụng rên la trước sự dửng dưng của anh em, vì họ đã quá quen thuộc với tình trạng này rồi.

Một người ăn trúng đồ độc nên ói mữa. Một người lên cơn đau thận vì một cục sạn rơi vào đường dẫn tiểu. Anh ta la khóc từng cơn mà không ai ngó ngàng đến vì nếu có gọi y tá trực thì chỉ được trả lời ráng “khắc phục”.

Du đến hỏi anh ta có kim may quần áo không? Anh ta đưa ra. Du hỏi thêm vài người bên cạnh thì cũng được cho mượn. Du châm vào các huyệt và dùng nội lực đã thông nơi bế tắc. Cơn đau dịu dần và hết hẳn.

Thời gian bị tù trong Chí Hoà và hai lần lênh đênh trên biển đã giúp Du cơ hội tiến một bước dài trên đường thiền định, tăng trưởng nội lực, phát ra và thu lại dễ dàng.

Mỗi khi Du ngồi hít thở thì có một luồng ánh sáng bao bọc quanh người. Anh em trong phòng đều ngạc nhiên khi thấy Du nhịn ăn uống trong hai ngày liền mà vẫn đầy đủ phong độ. Chứng kiến Du dùng kim may và nội lực chữa lành cơn đau thận một cách mau chóng họ lại càng khâm phục hơn.

Bây giờ mọi người đều vui vẻ với chàng. Du chỉ cần dùng nội lực đẩy vào các huyện thiên xu, trung quản, thượng quản và hạ quản thì chữa lành cơn đau bụng, ói mữa của anh em chung quanh.

Tuy tỏ vẻ khâm phục chàng, nhưng không ai cho chàng một chút thức ăn hay nước uống. Một anh cho Du một bình đựng nước. Du sung sướng lãnh nhận vì ngày mai chàng có nước để uống và làm vệ sinh.

Trại giam vẫn chưa nhận được bo bo nên Du phải nhịn đói thêm hai ngày nữa. Chẳng thà đói mà ai cũng như nhau hay bị biệt giam thì còn đỡ khổ. Đàng này chỉ mình Du đói. Mọi người chung quanh đều ăn uống thoải mái.

Nhìn chỗ nào cũng thấy đồ ăn treo lủng lẳng. Du lại phải nhắm mắt thiền định nhiều hơn. Ngày thứ năm, Du ăn được một bữa bo bo đầu tiên trong đời. Bo bo là một loại lúa cho ngựa ăn mà Nga đã viện trợ cho cộng sản Việt Nam nuôi dân. Phải nhai thật kỹ thì mới tiêu. Nếu ăn vội vàng thì nặng bụng, bao tử xót xa và đi cầu nguyên cả hột. Cơm được dọn tại hội trường lớn, ngay trước cửa của phòng Du ở.

Đến giờ cơm thì cửa mở, nhiều người đói quá chen chúc nhau nhìn phần bo bo nào nhiều nhất và chọn lúc nào ra đi thích hợp nhất để rơi đúng vào phần mình đã chọn.

Vì thời gian được ăn cơm tại chỗ chỉ có ba phút, nên khi đã chia được phần thức ăn thì mọi tù nhân đều đổ bo bo vào một túi nylông và thức ăn vào một cái chén đã đem theo sẵn. Khi về phòng, họ nhai thật kỹ, chậm chạp để thưởng thức cái vị ngọt của bo bo. Du cũng bắt chước các bạn. Tuy bo bo không nhiều đường hơn gạo, nhưng nhờ lâu tiêu mà tù nhân đỡ thấy đói hành hạ.

Du đã từng đọc rất nhiều sách nói về chế độ tù tại nhiều quốc gia nhất là cộng sản. Nhưng chưa nơi nào tù nhân bị đói xử tàn tệ như Việt Nam. Quyển sách “Người tù Khổ sai” của Papillon đã được cả thế giới thưởng thức vì chính tác giả đã kể lại chuyện đời mình qua các trại tù và những mưu toan vượt ngục bất thành.

So với cuộc sống trong trại tù cộng sản thì sự mất tự do và tàn ác không thấm vào đâu. Tù nhân Việt chỉ biết sống cho đến chết ở một diện tích nhỏ hẹp trong bốn bức tường kiên cố thì làm sao có cơ hội vượt ngục được? Bệnh hoạn thì phải tự khắc phục vì trại giam không có thuốc.

Mỗi tuần được tắm một lần. Mỗi lần chỉ được dội ba lần. Mỗi lần bốn ca nước tổng cộng chừng ba lít dưới sự kiểm soát khắt khe của bọn lao động. Ai lỡ dùng nhiều nước hơn thì lần sau khỏi tắm.

So với tù nhân ở Chí Hoà thì tù nhân ở tỉnh Tiền Giang này khốn khổ hơn nhiều. Chắc thế nào cũng có những trại giam khác trong nước mà sự tàn nhẫn còn khủng khiếp hơn đây nhiều. Nhưng có phóng viên nào có phép vào thăm và đủ khả năng để diễn tả cho thế giới biết?

Quần áo được gom lại đi giặt mỗi tuần một lần. Được cử đi giặt là một đặc ân do trưởng phòng ban phát, vì được tắm rửa thoải mái và đi lại tự do, phơi và canh chừng quần áo cho đến khi khô thì đem vào.

Người ta dùng những chiếc chảo gang lớn để giặt. Đó là dụng cụ nấu cơm cho bộ đội vượt Trường Sơn trước đây. Quần áo được cho vào chảo, đổ nước vào, quậy mấy cái là xong.

Tất cả nước nấu ăn, tắm, giặt và uống đều lấy từ một hồ nước duy nhất. Tuy do nhà máy nước thành phố cung cấp, nhưng những anh lao động thọc cả tay dơ vào hồ rửa nên nước đầy vi trùng. Tù nhân phải uống nước ấy mà không được nấu sôi. Những tù nhân mới vào thường hay bị đau bụng vì uống phải nước dơ nhưng dần dà rồi cũng quen đi.

Vì không được phơi nắng, ngồi hoặc nằm nguyên tại chỗ suốt ngày, ăn uống thiếu thốn nên nhiều người bị ghẻ. Môn thuốc thần diệu nhất trị được ghẻ là dầu dừa trộn với diêm sinh. Người nào được thân nhân thăm nuôi thì có một hủ. Những người không được thăm nuôi thì ráng chịu ghẻ hoành hành. Cái ngứa của ghẻ cũng là một hình phạt dã man và nhân từ nhất mà cộng sản ban phát cho tù nhân.

Mỗi tuần thì cầu tiêu đầy. Phải có một toán người ra phía sau, dở nắp hầm cầu lên, múc phân đổ xuống sông. Sau đó được tắm rửa sạch sẽ cho hết mùi hôi. Một lần mười người được cắt đi. Ai cũng tranh nhau nên phải bốc thăm lần lượt từng dãy. Cái tắm cũng quan trọng không khác gì cái ăn. Phòng thì chật ních cả người, không khí tù túng, nóng bức, mồ hôi chảy ròng, quần áo không được giặt sạch, nên được tắm là một niềm vui sướng nhất đời.

Một cái khổ khác mà anh em phải chịu là bị rệp cắn. Những người nằm dưới đất tuy luôn bị anh em quấy rầy nhất là lúc chia nước. Họ không có chỗ treo đồ ăn, nhưng bù lại ngủ yên vì không bị rệp quấy nhiễu vì rệp không thích bò trên sàn ximăng lạnh.

Rệp nhiều không thể tưởng tượng nổi. Chúng núp kín trong các khe của sạp gỗ. Ban đêm nhảy dù xuống đột kích những người nằm trên bệ ximăng. Những người nằm trên sạp gỗ cũng bị cắn.

Thấy anh em khổ sở vì đói, không khí dơ bẩn, bệnh hoạn rình rập, tinh thần xuống thấp vì không biết ngày nào mới ra khỏi tù, Du dạy cho anh em hít thở. Thấy tinh thần Du luôn vững vàng, sức khỏe dồi dào mặc dầu vừa trải qua gần một tháng lênh đênh trên biển, từ người Du phát ra một nguồn an bình thanh thoát, nên anh em nghe theo.

Chính trong cảnh khốn cùng mà việc hít thở cho kết quả tức thời. Anh em không nổi giận bất chợt, không gây lộn nhau thường xuyên, không bị cái đói hành hạ, ghẻ cũng bớt dần nên họ vui mừng và hăng say thực hành.

Ông đảng viên cộng sản trưởng phòng cũng bắt chước theo. Tuy giám thị có biết, nhưng họ thấy trật tự trong phòng khá hơn, nên không làm khó dễ.

Dần dà Du được cả phòng thương mến. Chàng được ông trưởng phòng đặc cách cho lên nằm gần ông khi có một tù nhân vượt biên được thả. Ông nhờ Du chữa cho bệnh phong thấp nan y của mình. Ông về nhà mua kim và thuốc bắc đem vào cho Du xử dụng. Ông cho Du một số đồ ăn. Ông kể cho Du nghe lý do tại sao bị bắt.

Ông là cựu trưởng ty kinh tế tỉnh Tiền Giang, là cán bộ kinh tài nằm vùng khi Sàigòn chưa bị cộng sản cưỡng chiếm. Ông đã vào tù ra khám không biết bao nhiêu lần. Ông nói:

– Trước đây tù cộng sản sống sung sướng hơn bây giờ nhiều. Phòng này trước đây chỉ chứa 40 người phần lớn là đảng viên cộng sản. Chúng tôi đoàn kết và thương yêu nhau vì đang sống trong lý tưởng tốt đẹp. Mỗi lần có điều gì không bằng lòng là chúng tôi tuyệt thực phản đối làm giám thị sợ hãi cuống cuồng. Ngay trong tù mà chúng tôi cũng làm cho bọn quốc gia điên đầu thì huống chi ở ngoài.

Thế mới biết cái sức mạnh của đoàn kết và sự mê tín cho một lý tưởng mà mình chưa hề sống qua. Cơm nước đầy đủ, đồ ăn thừa thãi mà chúng tôi đâu thèm ăn. Được thăm nuôi thường xuyên, được cho tiền nhiều, nên chúng tôi tự do đi vào câu lạc bộ ăn uống phè phỡn.

Mỗi lần chúng tôi phản đối thì báo chí đối lập loan tin ầm ỉ. Báo chí ngoại quốc bắt chước theo phao đồn nhiều tin thất thiệt là chính phủ quốc gia đàn áp đối lập. Vì thế quốc gia thua là cái chắc. Bây giờ chúng tôi chẳng bao giờ mất quyền đâu vì chả ai dám phản đối và báo chí câm như hến. Chúng tôi mạnh hơn chính quyền cũ ở chỗ đó.

Kể cũng lạ, chúng tôi tranh đấu để xây dựng một xã hội tốt đẹp, thế mà nay vào tù thấy cảnh tượng tồi tệ hơn xưa nhiều. Lúc xưa, chúng tôi được phép đi tự do phòng này sang phòng khác. Muốn tắm lúc nào cũng được. Muốn uống bia, càphê hay phở thì vào câu lạc bộ. Công chức Cộng Hòa vào tù thì bị chúng tôi bắt nạt, chứ đâu có như bây giờ. Nhưng tôi bất cần. Tôi đã vỡ mộng rồi. Họ khai trừ tôi ra khỏi Đảng càng tốt. Tôi sẽ ở tù một thời gian và về nhà hưởng số tiền dành dụm được.

Hỏi kỹ, Du biết được ông ta đã bán xăng dầu lậu cho các ghe tư nhân, bán hàng hóa vào thị trường chợ đen. Ông ta đã làm giàu nhanh chóng và tối mắt trước tiền bạc. Ông ta đã được một người Hoa móc nối tổ chức một chuyến vượt biên. Ông ta kiếm được năm trăm lượng vàng một cách dễ dàng. Tham lam quá, ông ta làm chuyến thứ hai và bị bể vì ăn chia không đồng đều, bọn công an biên phòng phản phé vào giờ chót.

Phó phòng là cựu chủ tịch thương binh và gia đình liệt sĩ tỉnh Minh Hải, tên Tư Nhi hay “Nhi điếc”, một biệt hiệu mà khi nói ra ai cũng biết. Thời nội chiến tương tàn, ông ta hoạt động trong rừng U Minh hạ và là bạn thân với bí thư tỉnh.

Nhi điếc liên lạc với trung ương xin khai thác gỗ từ Đồng Nai chở về Cà Mau bán cho các gia đình thương binh liệt sĩ đóng ghe để đền đáp công lao của họ trong quá khứ. Giá gỗ chính thức và chợ đen chênh lệch gấp mười lần. Lúc đầu, ông ta giữ được lòng trong sạch, nên uy tín lên cao. Nhưng khi thấy tiền lời quá lớn, ông ta mờ cả mắt, quên hết những gì Đảng dạy, ông ta đã thông đồng với bọnYàu ở Mỹ Yho để bán gỗ ngay tại đó lấy một số tiền lời lớn. Lúc ấy, người ta cần nhiều gỗ để đóng tàu vượt biên chính thức nên giá càng cao. Ông ta làm được ba chuyến thì bị bể. Kẻ bán và người mua đều vào tù. Một đời cách mạng ba mươi năm, nằm gai nếm mật mà chỉ một phút sa cơ là bị “gỗ đè” chết ngay.

Kinh tế cộng sản dở ở chỗ nhà nước độc quyền buôn bán mà hệ thống phân phối không hữu hiệu, sản phẩm không dư thừa, đảng viên thối nát từ trên xuống dưới nên chợ đen độc chiếm thị trường.

Dân chúng phải làm việc lén lút trong lo sợ. Chính phủ rình mò những sơ hở để bắt lấy tiền, tịch thu tài sản, bỏ tù. Nhân dân và chính quyền càng chơi trò cút bắt thì đảng viên càng giàu và trại tù càng nhiều, kinh tế càng kiệt quệ. Đó là bộ mặt thật của xã hội chủ nghĩa.

Du không ngờ “Nhi điếc” là chính cụ già đã cứu hai cha con chàng ngoài khơi cửa Bồ Đề trước đây. Ông cụ cũng ngỡ ngàng khi gặp lại Du. Ông tâm sự:

– Tôi cũng tưởng giữ được số tiền do cậu đưa để an hưởng tuổi già và giúp cho các con từ từ. Nhưng chúng nó lại nghĩ khác. Chúng đòi tiền để sống phè phỡn, xây nhà to, mua ghe lớn, rượu chè, cờ bạc suốt ngày. Không đưa thì chúng dọa đi tố cáo, ăn nói hổn hào.

Nếu tôi biết cơ sự như vậy thì đã không lấy số tiền đó rồi. Tự nhiên lại lãnh nợ vào thân. Vì thế cả vùng đều biết chúng tôi có một số tiền lớn trong tay. Cuộc sống bình dị của tôi không còn nữa. Bạn bè, anh em đảng viên trong tỉnh không làm khó dễ gì tôi, nhưng tận tình thăm viếng hằng ngày, chiếu cố, vay mượn. Nếu không tiếp đãi chu đáo hay từ chối cho vay thì họ dọa nạt đủ điều.

Tuy số tiền có lớn, nhưng chi tiêu quá nhiều thành chỉ hai tháng sau là hết một nửa. Tôi buộc phải đứng ra nhận nhiệm vụ buôn gỗ giúp đồng bào để kiếm tiền trang trải các chi tiêu to lớn của cả đại gia đình mỗi ngày càng tăng. Không ngờ khi thấy lời vào nhiều, tôi mất sáng suốt và cuối cùng thì mất sạch cả gia tài lẫn sự nghiệp một đời khổ công xây dựng.

Nếu bị bắt ở Minh Hải thì còn cơ hội sống tự do nhờ sự giúp đỡ của bạn bè. Rủi là ba cha con lại bị bắt ở đây nên hết đường xoay xở. Lúc nghèo thì ai cũng là anh em. Lúc giàu có thì ai cũng là thù. Tôi quen biết với hầu hết các tỉnh ủy ở đây, nhưng họ đã không giúp mà còn tìm mọi cách để hại. Sao cậu lại vào đây?

Du đã kể cho cụ Nhi nghe sự bất hạnh của mình và kết luận:

– Ông trời thử thách tôi quá nhiều. Nhưng tôi an tâm chấp nhận và hy vọng một ngày nào đó sẽ được mãn nguyện. Cụ đừng lo. Cụ sẽ được thả ra một ngày rất gần vi Đảng không bỏ mặc những người có công với cách mạng đâu.

Tù chính trị thì có nhiều nhóm. Tất cả đều tổ chức rời rạc và kình chống nhau.

Nhóm Ngươn Long là một nhóm dân chúng trước đây ủng hộ cộng sản. Khi thấy cộng sản hà hiếp dân chúng quá, họ nổi dậy giết cả ủy ban nhân dân xã. Họ giữ xã được một tuần thì bị bộ đội đánh tan. Những người cầm đầu bị xử tử. Những người tội nặng thì bị chung thân khổ sai trong xà lim. Những người a dua thì bị giam không biết ngày nào ra khỏi tù

Nhóm thứ hai là Mặt trận Tự do, Dân chủ. Một đại úy trốn cải tạo tụ họp được một số binh sĩ và hạ sĩ quan. Ông ta tự phong cho mình là đại tướng. Những người khác đều được ông phong cho những cấp bực từ trung tướng cho đến binh nhì.

Người tham gia lên đến gần một ngàn. Họ tìm được một số vũ khí và đạn dược đáng kể. Họ có kế hoạch chiếm tỉnh Tiền Giang và từ đó tiến chiếm tất cả các tỉnh khác. Tổ chức bị bể trước khi hành động và bị bắt trọn. Những người mang cấp bậc tướng, tá thì bị xử tử ngay. Cấp úy và hạ sĩ quan bị chung thân khổ sai. Binh sĩ bị tù.

Nhóm thứ ba là các quân nhân của sư đoàn 18 bỏ vào rừng khi cộng sản chiếm miền Nam. Họ cho người về các tỉnh miền Tây để chiêu mộ thêm quân. Họ bị những người kết nạp tố cáo nên bị bắt. Những người này sống tương đối có tư cách.

Còn nhiều nhóm nữa, nhưng tương tự như nhau. Họ không có một lý tưởng hay một đường lối chính trị nào cả. Họ khích bác, chia rẽ, tố cáo nhau để mong được thả sớm.

Số người vượt biên chiếm hai phần ba. Phần đông là Ba Tàu Chợ lớn. Họ rất khôn ngoan trong thương mãi và bóc lột người bản xứ mà không gây thù hận, nhưng khi vượt biên họ bị gạt liên miên. Thế mới biết sự gian trá của cộng sản hơn hẳn họ.

Nếu bị bắt mà có tiền chạy sớm tại xã hay huyện thì chỉ tốn vài chỉ tới một lượng vàng. Nếu đưa về tỉnh giam thì tốn ít nhất bốn lượng mới được tự do. Nếu ai không có vàng thì chịu khó ở tù một năm rồi sẽ được đưa đi lao động tại các nông trường chừng mười tháng thì được thả.

Mục đích của Ba Tàu là làm giàu và ăn uống sung sướng. Vì thế khi thấy làm ăn khó khăn họ tìm mọi cách vượt biên.

Một ông thầu khoán giàu tại Sàigòn đóng một chiếc ghe đánh cá lớn tại Mỹ Tho. Ông ta mua được hết công an từ trên xuống dưới. Chỗ tập trung kín đáo và có công an gác kỹ. Ghe trang bị cả M79 và tiểu liên để chống với cướp Thái Lan. Ông ta đã kiếm được cả ngàn lượng vàng trong việc tổ chức này.

Giờ chót, ông ta cho đứa con trai lớn dùng honda chở số vàng xuống ghe để đem ra ngoại quốc xài. Khi xe chạy qua đồn kiểm soát Trung Lương thì có một công an chận lại xin quá giang. Người con tưởng bị lộ nên hoảng hốt chạy thẳng. Công an nghi buôn lậu nên nổ súng bắn theo. Chẳng ngờ đạn trúng làm nổ bánh xe. Anh ta bị té xuống đường. Công an chạy đến lục thì bắt được số vàng lớn. Anh ta bị đánh đập nên khai hết. Thế là công an Mỹ Tho biết câu chuyện đổ bể nên phản phé, bắt giam hết những người vượt biên đang chờ đợi xuống ghe. Vì ghe có súng nên người tổ chức chắc bị tù lâu.

Một ông chủ ghe đánh cá ở Vũng Tàu đã tổ chức chu đáo cho cả đại gia đình ra đi. Ông ta tin vào người em vợ là trung úy hải quân. Anh này ba hoa biết hết mọi chuyện, nhưng thực ra chỉ là sĩ quan tiếp liệu trên tàu nên không biết gì hết về may móc hay ghe tàu. Khi ra khơi gặp biển động, ai cũng say sóng. Rủi thay nút chận của lỗ xả nước ở đít ghe bị bung ra. Nước vào ghe từ từ mà không ai biết. Khi biết được thì không tìm ra nguyên nhân. Khi tìm được thì nước đã ngập nửa khoang. Khi tát hết nước thì máy không nổ. Phải dùng khí nén để khởi động vì máy quá nặng, sức người không quay nổi. Khởi động ba lần mà máy không nổ. Khí nén hết. Ghe trôi tấp vào bờ tỉnh Tiền Giang. Cả đại gia đình 63 người đều vào tù. Thật là xui xẻo.

Một nhóm khác chuyên lấy tàu sắt của chính phủ để vượt biên. Họ làm được hai chuyến an toàn. Chuyến thứ ba họ chở đến 215 người với lệnh điều vận chở hàng từ Sàigòn đi Đà Nẳng. Vì thế họ phải nhét hết số người trong hầm tàu. Nhiều người bị xỉu vì ngạt thở nên phải đưa lên chỗ thông hơi.

Công an tuần duyên chận xét không thấy gì nên cho đi. Người công an cuối cùng rời tàu, quay đầu nhìn lại thì thoáng thấy dáng đàn bà trên tàu. Họ quay lại khám kỹ hơn và lôi lên hết số người vượt biên. Tất cả bị ở tù. Có nhiều gia đình bác sĩ, kỹ sư, dược sĩ đi trong chuyến này. Mỗi người phải đóng tám lượng vàng. Người tổ chức không đi nên ôm được số vàng trốn biệt.

Ba thương gia giàu thân thiết với nhau như anh em ruột. Họ hùn tiền để làm một chiếc ghe cho cả ba đại gia đình ra đi. Một người được cử liên lạc với công an Vũng Tàu mua bãi. Công an đề nghị:

– Nếu anh bỏ hai đại gia đình kia lại mà chở 300 khách của chúng tôi thì khỏi tốn tiền mua bãi mà lại được trả thêm 600 lượng vàng nữa để qua Mỹ sống sung sướng.

Thấy số vàng quá lớn, anh ta quên hết luân thường, đạo lý, tình nghĩa bạn bè trong hơn ba mươi năm qua. Hai đại gia đình bạn đáp xe xuống bãi thì bị công an bắt dọc đường mà không cần bằng chứng.

Đại gia đình anh ta vào bãi an toàn và nhận được số vàng. Tàu đáng lẽ chở 300 người thì công an dồn lên 500. Khi ra biển khơi gặp bão. Tàu vỡ ra từng mãnh vì quá tải. Tất cả đều chết trừ anh ta bám được một tấm ván trôi vào bờ.

Mất cha mẹ, vợ con, anh em, tiền bạc anh ta trở nên điên loạn nên bị giam vào xà lim. Đêm khuya nghe tiếng gào thét của anh ta mà rùng mình khi nghĩ đến cả nước đang sống trong một chế độ mà sự lọc lừa làm băng hoại hết nền tảng đạo lý cha ông đã dày công vun xới.

Vì thấy cách hít thở đem lại trật tự mà các giám thị mong ước, họ đổi Du từ phòng này sang phòng khác để chàng dạy cho mọi tù nhân. Nhờ thế Du biết được nhiều người, nhiều nhân vật đặc biệt, nhiều cách sống đa dạng, nhiều hiểu biết về người vì chỉ trong đói khổ con người mới hiện nguyên hình bản tính của mình. Du nhận thấy dân tộc Việt Nam có quá nhiều tính xấu. Từ xưa đến nay, không có nhà văn, nhà báo, nhà viết sử dám nói lên sự thật vì sợ bị quần chúng tẩy chay.

Chúng ta chỉ biết ca tụng nhau, cúi đầu khâm phục những người đậu các bằng cấp cao ở ngoại quốc, các bác sĩ, kỹ sư. Ta không biết rằng phần lớn càng trí thức bao nhiều thì càng ích kỷ,gian ngoa, thủ đoạn bấy nhiêu. Họ sẵn sàng làm tay sai cho ngoại bang để kiếm tư lợi. Với tư cách như thế thì làm sao quốc gia có thể tiến bộ được? Chẳng thà mù chữ mà biết thương yêu đồng bào, biết xã thân cho hạnh phúc của người khác.

Các phòng trong nhà giam này là một quốc gia thu nhỏ với tất cả các hạng người từ trí thức, thương gia, đến nông dân chung đụng hằng ngày.

Du đau buồn thấy tương lai quốc gia đen tối một phần vì bị cộng sản đô hộ, nhưng phần khác chính vì bản chất của dân tộc còn quá nhiều tính xấu mà cần phải có một nền giáo dục đứng đắn trong vòng hai ba mươi năm nữa mới mong bỏ hết để theo kịp các nước chung quanh.

Du đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quí báu qua các buổi nói chuyện thân mật với bạn bè. Du thấy mình tiến xa trên đường thiền định và nội lực gia tăng gấp bội với khẩu phần chết đói của trại giam. Du sung sướng thấy mình đã giúp được cho bạn bè vừa khỏi bệnh, vừa có cái nhìn đứng đắn về cuộc đời.

Một hôm, Du được giám thị bảo bận quần áo chỉnh tề đi chữa bệnh cho một em bé. Du được đưa lên xe hơi chạy đến bệnh viện. Du thấy dân chúng tấp nập trên đường mà mong ước có ngày hưởng được một chút tự do trong nhà tù vĩ đại Việt Nam. Đến bệnh viện, Du được đưa vào một phòng sang trọng có một bé trai đang mê man.

Cha mẹ em đang lo lắng đứng chờ. Bác sĩ cho biết em bị sốt xuất huyết nặng mà tình trạng ngày càng bi quan hơn mặc dầu đã được tận tình chữa trị. Du xem mạch thấy nhảy rất yếu, hơi thở hoi hóp, cặp mắt dại hẳn đi, trên da có nhiều vạc máu bầm.

Du đưa hai ngón tay lần lượt ấn vào các huyệt huyết hải, chương môn, trung quản, thái uyên. Một lúc sau em bé tỉnh dần, các vạc máu bầm tan đi.

Du lật em bé lại và đẩy nội lực vào các huyệt tâm du, cao hoang, cách du, tỳ du, can du, thận du.

Khi máu bầm đã tan hết, mạch tim và hơi thở bình thường, Du rút tay về và bảo:

– Em bé đã qua thời kỳ nguy hiểm. Chỉ cần truyền nước biển và ăn cháo thì sẽ khỏe trong vài ngày sau.

Cha mẹ em bé vui mừng cảm ơn. Du cúi đầu chào và theo giám thị về trại. Ba ngày sau, Du được trưởng phòng cho biết đứa bé đã được chữa lành là cháu nội của bí thư tỉnh Tiền Giang. Từ đó mỗi tuần Du nhận được một giỏ đồ ăn do giám thị trao cho. Thế là hết những ngày sống thiếu thốn. Du được ra ngoài hội trường khám bệnh cho các tù nhân hằng ngày nên hưởng được không khí tươi mát và thoải mái.

Ba tháng sau khi vào tù, Du được lệnh đổi qua chấp pháp để điều tra. Đáng lẽ các tù nhân khi vào tù thì phải vào trại chấp pháp trước. Nhưng rủi cho Du khi bị bắt thì trại chấp pháp đã đầy người nên được gởi tạm vào khám lớn.

Rồi vì nhu cầu giúp cho tù nhân giữ được trật tự tốt và ít bệnh hoạn mà Du phải ở lại đến ba tháng. Thực sự thì đâu cần điều tra gì. Việc vượt biên của Du là do chính phủ tổ chức. Người ta chỉ làm máy móc theo thói quen thôi.

Các phòng giam ở chấp pháp gồm các dãy nhà tôn. Mỗi dãy có hai mươi phòng. Mỗi phòng rộng bốn mét vuông chứa sáu tù nhân nên thoải mái hơn bên khám lớn.

Phòng có cửa sổ trông ra vườn bịt kỹ bằng kẽm gai. Phía ngoài là nhiều hàng rào kẽm gai cao quá đầu người. Du thấy mình không cần phải liều mạng vượt ngục vì ngày về chắc không xa lắm.

Tám giờ sáng, cán bộ lần lượt mở cửa từng phòng. Tù nhân phải sẵn sàng. Ai có phận sự nấy. Người lo việc rửa thau, chén ngày hôm trước. Người lo lấy nước uống. Người lo đổ bô tiêu, tiểu thì chạy vào cầu tiêu và chạy ra sau nhà rửa bô trong một ao nước. Mọi việc phải làm nhanh gọn trong vòng ba phút. Nếu chậm trể thì bị cán bộ đánh đập không chút xót thương.

Ở đây không được thành phố cung cấp nước. Mỗi ngày, mỗi phòng phải thay phiên nhau múc nước từ giếng lên đổ đầy vào các thùng phuy, xong thì được tắm. Tất cả mọi việc phải thực hiện trong vòng năm phút.

Vì đang là mùa nắng, thủy triều dâng lên tận Mỹ Tho, nước giếng mặn như nước biển nên chỉ dùng để rửa và tắm. Nước uống do toán lao động múc ở các vũng nước mưa trong vườn những nhà dân chúng chung quanh. Múc xong đem về để lắng xuống và uống. Vì nước uống quá dơ nên nhiều tù nhân bị kiết lỵ do nhiểm vi trùng và vàng da do nhiểm vi khuẩn. Một bác sĩ vượt biên giam ở đây đã chết vì bị kiết lỵ hơn cả tháng mà không có thuốc chữa.

Đến mười giờ trưa thì cửa phòng lần lượt được mở để lãnh cơm. Hai người chạy túa ra một lượt nhận các thau bo bo và đồ ăn rồi hấp tấp chạy về phòng. Mọi việc phải hoàn tất trong vòng hai phút.

Đồ ăn và bo bo được chia ra khi vào phòng. Năm giờ chiều cũng làm tương tự. Tiêu tiểu được giải quyết ngay trong phòng nhờ hai cái bô. Tù nhân ngủ ngay trên đất, không bị rệp hút máu, được treo được mùng nên tránh bị muỗi đốt.

Tuy cuộc sống thoải mái hơn ở khám lớn, nhưng Du thấy cán bộ đánh dập anh em quá nhiều chỉ vì họ muốn anh em làm xong công việc càng sớm càng tốt để có thì giờ tán tỉnh các nữ tù nhân.

Nữ tù nhân được ở trong một căn nhà lớn và tự do đi lại cũng như tắm rửa.

Tù nhân không được gặp thân nhân. Mỗi lần thăm nuôi, tù nhân đưa giỏ rỗng có đề tên khi lãnh cơm sáng và nhận giỏ đầy khi lãnh cơm chiều.

Phòng Du ở có sáu người thì ba là dân vượt biên, hai là tù chính trị. Ba người vượt biên là nhân viên ty hải sản. Họ móc nối với du kích địa phương ăn cắp một chiếc ghe đánh cá nhỏ ra đi. Tất cả là mười người. Dầu, gạo, nước đầy đủ, máy tốt nhưng không có hải bàn. Họ chạy bốn ngày mà vẫn thấy núi Vũng Tàu sau lưng. Chắc là họ đã chạy loanh quanh vì chưa ai có kinh nghiệm đi biển. Cuối cùng, quá lo sợ, họ quay ghe vào bờ và bị bắt.

Một tù chính trị là binh nhì thủy quân lục chiến khi xưa, được Mặt trận Tự do, Dân chủ móc nối gắn cho lon đại úy và phát súng. Anh ta không biết gì về tổ chức. Vì tham chức đại úy mà nhập bọn. Bây giờ thì không biết khai gì. Cộng sản không tin nên giam và thẩm vấn hoài cả bảy tháng nay mà không đưa qua khám lớn. Đó cũng là một may mắn cho anh. Vì qua khám lớn sẽ có cuộc sống khổ cực hơn đây nhiều.

Tù nhân chính trị thứ hai tên Thanh, sinh viên luật khoa Sàigòn trước đây, thuộc tổ chức Mặt trận đoàn kết giải phóng quốc gia, do các tín đồ Hoà Hảo chủ trương. Ở quê nhà anh là thành phần trí thức cao nhất. Tổ chức này theo đúng các điều dạy của giáo chủ Huỳnh Phú Sổ trong các sấm giảng của ông. Thanh đã đem bản cương lĩnh mặt trận về phân phát cho các thành viên. Công việc bại lộ, Thanh và cha anh bị bắt. Tội nghiệp cha anh không hề biết gì về việc của con làm mà phải liên đới chịu trách nhiệm.

Thanh rất ghét những người vượt biên vì cho là những phần tử hèn nhát, chạy theo đế quốc, trốn tránh trách nhiệm. Thanh rất tự mãn về kiến thức văn hóa của mình và tổ chức mà anh đã tham gia. Khi biết Du vượt biên và có đạo Thiên chúa, Thanh công kích ngay:

– Đạo của anh do thằng Tây đem lại. Các anh đã làm tay sai cho Pháp, Mỹ. Bây giờ tụi Mỹ bỏ chạy, anh lại cố gắng chạy theo chúng. Anh hèn nhát không dám ở lại đương đầu với cộng sản.

Du chỉ mỉm cười không phản đối. Trước khi ngủ, Du ngồi thiền. Thanh thấy một vùng sáng tỏa ra từ người Du nên kinh ngạc. Sáng dậy, Thanh hỏi:

– Có phải khi hôm anh ngồi thiền không? Môn thiền của anh thuộc môn phái nào và đem lại cho anh những lợi ích gì? Bên đạo chúng tôi cũng có môn thiền. Có phải cùng một môn phái với anh không?

Du mỉm cười đáp:

– Thời niên thiếu, Đức Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ là một thanh niên bệnh hoạn, ốm yếu. Ngài đã tìm đến mộ của Đức Phật Thầy Tây An ngồi thiền, ngộ được đạo và lành hết bệnh tật. Ngài nói năng lưu loát, làm thơ nhanh như chớp, rao giảng tín lý mới cho nhân dân miền Nam dựa trên đạo lý cổ truyền của tổ tiên và phật giáo.

Ngài thấy xa, trông rộng và tiên đoán sau một thời gian loạn lạc, nước Việt Nam sẽ có một thời hòa bình vàng son. Rủi thay Ngài đã bị cộng sản sát hại khi đang thành lập mật trận dân chủ kết hợp mọi lực lượng chính trị miền Nam chống Pháp và cộng sản. Nhiều người tin rằng Ngài vẫn còn sống và đang ẩn tu. Ngài sẽ tái xuất giang hồ để đem lại hòa bình và thịnh vượng cho dân tộc. Tôi tin rằng Ngài đã chết và sau này sẽ có một người khác thay Ngài làm những việc mà Ngài mong ước.

Thanh ngạc nhiên:

– Sao anh biết hết các chi tiết rõ ràng như vậy? Anh có liên hệ gì với Hòa Hảo? Chúng tôi noi gương và thực hiện lời Ngài. Chúng tôi sửa soạn để đón tiếp Ngài tái xuất giang hồ đem lại thanh bình và an vui cho xứ sở. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào lời sấm của Ngài và ngày giờ Ngài tiên đoán đã gần đến.

Sau đó Thanh đọc vanh vách các lời sấm và giảng nghĩa cho Du và các bạn. Chưa bao giờ Thanh vui như thế khi có người nghe và hiểu được lý tưởng của mình. Du cười bảo:

– Tôi không phải là tin đồ, nhưng tôi có nghiên cứu về đạo Hòa Hảo. Đức Giáo chủ là một thánh nhân thương yêu nhân dân thật lòng. Cộng sản giết Ngài là phạm một tội ác muôn đời sẽ bị khinh khi. Nhưng các anh cũng hơi ngây thơ. Ngài bảo là sẽ trở về nhưng đâu phải hôm nay hay ngày mai. Các anh là những người can đảm dám chống lại cộng sản. Nhưng sự can đảm ấy không cần thiết mà còn làm hại đến gia đình và đồng bào.

Cộng sản phải tàn rụi, nhưng không phải bây giờ mà cần có một thời gian dài. Nhân dân ta phải còn khốn khổ nhiều để tìm ra một triết lý sống khôn ngoan hơn, một tấm lòng độ lượng hơn, một trái tim đầy tình yêu để giải quyết được những bất đồng ý kiến nội bộ. Khi những người làm cách mạng có trái tim không chứa hận thù, một tinh thần không màng danh lợi thì mới mong đem cơm no, hạnh phúc cho nhân dân. Các anh còn đầy hận thù trong tim, còn bị tham lam làm mờ mắt thì dẫu có may mắn nắm được chính quyền cũng chỉ đem lại đau khổ cho nhân dân mà thôi.

Anh cho tôi hèn nhát, tôi xin chịu. Nhưng anh cho đạo Thiên chúa do Pháp đem lại và phân biệt đạo này với đạo kia là tôi không phục. Khi hôm tôi làm thinh vì không muốn cãi. Đối với tôi đạo nào cũng tốt. Đạo nào cũng dạy cho con người làm lành, lánh dữ, đem con người đến gần Thượng Đế, nguồn mạch của chân, thiện, mỹ, tạo lập một xã hội đầy thương yêu và tha thứ. Mình phân biệt đạo này với đạo kia chỉ tổ gây chia rẽ. Mỗi đạo khác nhau trên hình thức, nhưng vẫn cùng một mục đích thâm sâu. Trong qua khứ, chính trường miền Nam bị xáo trộn thường xuyên để cho cộng sản lợi dụng chỉ vì các người lãnh đạo tôn giáo muốn độc tôn.

Chúng ta là những kẻ đui mù, mò mẫn trong đêm tối để tìm về Thượng Đế. Tại sao chúng ta không biết thương yêu nhau, đoàn kết để cùng tiến bước cho có bạn mà lại hại nhau, bẫy nhau để cho kẻ vô thần lợi dụng đẩy toàn dân xuống vực sâu? Đến bao giờ các nhà lãnh đạo tôn giáo Việt Nam biết rằng phải thương yêu, đùm bọc nhau và không phân biệt đạo này với đạo khác thì mới mong dân chúng được hạnh phúc.

Tôi phục và quí trọng trình độ trí thức và sự can trường của anh. Nhưng anh có nghĩ rằng hành động của mình có hợp thời không? Hiện nay dân chúng đang lo sợ trước sự đàn áp dã man của cộng sản thì họ đâu đủ can đảm để ủng hộ các anh? Có thể đây là thời gian các anh kiểm điểm lại những việc đã làm để tìm một con đường hay cho mai sau.

Môn thiền tôi đang thực hành chỉ có mục đích thanh lọc tâm hồn, đưa tôi đến gần Thượng Đế, giúp cho tôi khỏe mạnh trong bất cứ tình huống nào. Môn thiền này hợp với mọi tôn giáo và mọi trình độ giáo dục. Nếu cả dân tộc ta biết thiền thì sẽ xây dựng được ấm no, hạnh phúc.

Cứ như thế Thanh và Du đã cãi nhau rất nhiều nhưng không bị cán bộ biết vì phòng ít người và không ai làm ăngten. Du vui mừng khi có dịp gieo vào đầu óc Thanh những ý tưởng về thương yêu và tha thứ mà ông Hùynh Phú Sổ đã áp dụng trong cuộc đời chính trị của mình. Du mong ước Thanh sẽ dùng nó trong những hoạt động tương lai.

Những ngày sau, Du chứng kiến việc các tù nhân thuộc nhóm Thanh liên lạc với thủ lãnh. Họ viết giấy và gõ vào tường ra hiệu. Thanh đứng lên vai anh chàng thủy quân lục chiến. Anh này vịn tường đứng lên. Các thư từ liên lạc được chuyền qua kẻ hở trên mái nhà. Họ báo tin cho nhau những thắng trận của các lực lượng chống đối khắp mọi nơi và vui vẻ tin tưởng ngày tàn của cộng sản không còn xa.

Du thấy thương cho họ quá! Nơi đây cô lập hoàn toàn với bên ngoài. Tin tức của cộng sản qua các đài phát thanh của chính phủ cũng không nghe được thì làm sao họ biết được các tin tức quân sự khác? Họ đã hết hy vọng được thả nên chỉ trông mong ngày giải phóng tưởng tượng. Du đành chia vui cùng họ, nhưng trong thâm tâm thì rất buồn cho tương lai dân tộc.

Thấy các tù nhân bị cán bộ đánh đập tàn nhẫn vì không nhanh nhẹn làm các công việc hằng ngày, Du tìm cớ để cho cấp trên biết mà sửa đổi. Khi được cắt đổ và rửa bô, Du lạng quạng té xuống ao nước đầy phân hôi thúi. Quần áo bê bết bùn và phân. Du xin phép cán bộ được tắm và giặt.

Cán bộ không bằng lòng nhưng đành chấp nhận và hối thúc phải làm cho nhanh. Du thong thả tắm và giặt quần áo thì ba cán bộ bước đến hối thúc. Du vẫn tỉnh bơ. Giận quá, một cán bộ đang cầm trên tay ống khóa phòng, đập mạnh vào đầu Du, máu tuôn xối xả.

Du trả đòn rất nhanh và điểm vào huyệt trung phủ. Cán bộ bị phản ứng bất ngờ nên lãnh trọn cú đấm vào mặt sưng vù. Hai cán bộ kia thấy bạn bị tù nhân đánh trả nên nổi giận chụp hai cây gậy tre gần đó nhào vào đánh đòn hội chợ. Du bình tĩnh đỡ đòn và đánh trả. Chỉ trong vòng hai phút cả ba cán bộ đều bị điểm vào yếu huyệt mà không bị thương tích nào. Du bị đánh nhiều đòn trên vai và lưng. Du không thèm trả đòn nữa mà đưa tay che đầu. Du la nhiều lần thật lớn:

– Báo cáo trại trưởng, cán bộ đánh tù nhân.

Cả trại đều nghe, nên cả ban giám thị và trại trưởng chạy xuống. Họ thấy Du đứng yên chịu trận nên ra lệnh cho ba cán bộ ngừng tay. Khi họ biết được lý do, Du bảo:

– Ba cán bộ dục tôi không được nên nhào vào đánh. Tôi chỉ biết đứng yên chịu. Mặt cán bộ bị thương là do ông ta bị bạn đánh nhầm. Tôi không hề đánh trả. Tất cả cán bộ ở đây đều bắt buộc tù nhân làm những công việc hằng ngày trong một thời gian quá ngắn. Nếu không làm xong thì bị họ đánh đập. Điều này trái với lời dạy của Bác Hồ về nghĩa vụ của công an.

Trại trưởng ra lệnh cho y tá băng bó cho Du và giam vào xà lim. Hai ngày sau thì cả khám lớn đều biết tin. Mọi người xôn xao vì ai cũng đã từng được Du giúp đỡ chữa cho lành bệnh. Các ông trưởng phòng đề nghị mọi người hãy tuyệt thực để phản đối. Tất cả đồng lòng nghe theo. Ban giám thị hoảng hốt vì trưởng phòng là các đảng viên cộng sản đã có công lớn trong quá khứ. Họ đành phải trình lên tỉnh uỷ quyết định.

Trong buổi họp khẩn cầp để giải quyết vụ tuyệt thực. Sau khi mổ xẻ cặn kẻ hơn thiệt của vấn đề, bí thư tỉnh kết luận:

– Ông ta là một người Hoa, vượt biên do chính phủ tổ chức. Ông ta bị giam vì Mã Lai đuổi. Chính nhờ chiếc tàu của ông ta bị chết gần hết mà thế giới mới có một chương trình qui mô định cư những người đọng lại trong các trại tị nạn. Chúng ta đã tổ chức thêm nhiều chuyến vượt biên sau đó và đuổi được những người Hoa ra khỏi nước.

Bác Hồ đã từng dạy chúng ta không được đánh đập tù nhân. Các cán bộ hoàn toàn lỗi trong việc này. Ông ta lại được lòng các tù nhân. Giam ông ta lại không ích lợi gì mà còn gây mất trật tự. Tôi đề nghị thả ông ta ngay. Nếu ai không đồng ý thì xin phát biểu.

Mọi người có mặt không phản đối nên Du được thả.

Ba cán bộ bị điểm vào huyệt trung phủ bắt đầu ho một ngày sau trận xô xát. Họ ho rũ rượi suốt ngày đêm. Họ không thể thở sâu vì ngực đau không chịu thấu. Không thể thở bằng oxygen vì các cơn ho. Các bác sĩ đành bó tay vì không thể nào chữa khỏi. Họ lịm dần trong cơn hấp hối.

Du được thả với yêu cầu chữa cho ba cán bộ lành bệnh. Du nhận chữa với điều kiện là ban giám đốc trại giam phải thi hành đúng điều lệ trại giam là từ nay cán bộ không được đánh đập tù nhân. Trước yêu cầu hữu lý của Du, họ đành phải chấp nhận.

Du chỉ cần xoa bóp trên ngực bệnh nhân một lúc, nhưng thực ra là giải huyệt cho họ. Ba bệnh nhân bớt ho ngay và thở điều hoà. Trước khi trả tự do, Du được đưa đi gặp bí thư tỉnh ủy tại nhà riêng. Ông ta cám ơn Du đã chữa lành bệnh cho đứa cháu nội và nói:

– Chúng tôi bận quá nhiều việc nên không thể kiểm soát được hết tình trạng sinh sống trong các trại giam. Anh đã hầu như sống qua hết các phòng và biết được rõ ràng những việc cần sửa đổi. Vừa rồi nếu anh không có can đảm chịu đòn để chúng tôi biết thì các cán bộ ngày một lộng hành và làm khổ tù nhân trái với điều bác Hồ đã dạy. Anh có những ý kiến xây dựng gì thì xin nêu ra, nếu xét thấy hợp lý, tôi sẽ cho thi hành.

Du không ngờ việc làm của mình lại đưa đến một kết quả tốt đẹp như thế. Du bảo:

– Với tổ chức chặt chẽ và kỷ luật của Đảng, với đội ngũ công an đông đảo và làm việc rất có hiệu năng, chính quyền rất vững mạnh. Những chống đối nhỏ nhặt không làm sao gây khó khăn cho chính phủ được. Vì thế, nếu có thể, xin ông thả bớt một số tù nhân để khám có đủ chỗ chứa.

Tù nhân vượt biên là những người rất nhát, nên cho họ đi lao động tại các nông trường, trước là để họ làm ra của cải cho tỉnh, sau là họ được sống thoải mái hơn.

Có những trường hợp bị tù thật vô lý chỉ vì thù oán với cán bộ địa phương. Một cụ già bị mù từ nhỏ không biết có thù oán gì với chính quyền xã mà bị gán tội làm trưởng ban ám sát. Mù mà ám sát được ai? Ông ta đã bị tù hai năm nay và đang bị suy dinh dưỡng trầm trọng. Xin ông hãy thả ông ta ngay.

Một người khác chạy xe lam đáng lẽ trả lời với bạn hàng là đồng ý thì dùng chữ O.K. cũng bị tù tám tháng nay vì tội làm tay sai cho Mỹ.

Những nông dân di chuyển không giấp phép cũng bị bắt vì tội vượt biên. Cả đời họ chỉ biết con trâu, đám ruộng, gắn bó với xóm làng, không bao giờ có ý tưởng xa quê thì làm sao muốn vượt biên được, thế mà cũng bị bắt.

Du đã tường trình hết các trường hợp bị bắt oan ức vì công an xã quá đa nghi hay có thù oán với tù nhân. Du cũng trình bày tình trạng sống quá sức tồi tệ trong các phòng giam mà việc thả bớt hay cho đi lao động tại các nông trường sẽ giúp giải quyết được các bế tắc. Ông bí thư lắng nghe và hứa sẽ cứu xét lại các trường hợp ấy.

Dòng sông Tiền Giang đã để lại cho Du những kỷ niệm đắng cay trong một trại tù khủng khiếp nhất của miền Nam.

—>Chương 35
<— Mục Lục

 

Advertisements
This entry was posted in THU BỒN, Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s